KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH PHÒNG CHỐNG THIẾU MÁU DO THIẾU SẮT CỦA SINH VIÊN Y KHOA NĂM THỨ NHẤT VÀ NĂM THỨ BA TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y - DƯỢC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN

Nguyễn Thùy Dương1, , Nguyễn Thị Dương2, Trần Thị Huyền Trang2, Lê Thị Thanh Hoa2
1 Đại học Y - Dược, ĐHTN
2 Trường Đại học Y Dược, Đại học Thái Nguyên

Nội dung chính của bài viết

Tóm tắt

Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ, thực hành phòng chống thiếu máu, thiếu sắt của sinh viên Y khoa năm thứ nhất và năm thứ ba tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025.

Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 892 sinh viên Y khoa năm thứ nhất và năm thứ ba tại Trường Đại học Y - Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền có cấu trúc nhằm đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống thiếu máu do thiếu sắt của sinh viên. Số liệu được làm sạch, mã hóa, nhập trên phần mềm Epidata 3.1 và xử lí trên phần mềm SPSS 26.0.

Kết quả: Tỷ lệ sinh viên Y khoa có kiến thức tốt về phòng chống thiếu máu do thiếu sắt đạt 87,8% và không có sự khác biệt giữa sinh viên năm thứ nhất và năm thứ ba. Tỷ lệ sinh viên có thái độ đúng đạt 82,7%, trong đó sinh viên năm thứ ba có tỷ lệ thái độ đúng cao hơn so với sinh viên năm thứ nhất (89,2% so với 77,0%). Tỷ lệ sinh viên có thực hành tốt đạt 62,8%, thấp hơn so với kiến thức và thái độ; sinh viên năm thứ ba có tỷ lệ thực hành tốt cao hơn rõ rệt so với sinh viên năm thứ nhất (76,1% so với 51,1%).

Kết luận: Kiến thức, thái độ và thực hành phòng chống thiếu máu do thiếu sắt của sinh viên Y khoa khá tốt, tuy nhiên thực hành của sinh viên còn hạn chế. Sinh viên năm thứ ba có thái độ đúng và thực hành tốt hơn so với sinh viên năm thứ nhất, cho thấy vai trò của quá trình học tập và trải nghiệm trong đào tạo Y khoa. Kết quả nghiên cứu cho thấy cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe nhằm nâng cao thực hành phòng chống thiếu máu do thiếu sắt cho sinh viên, đặc biệt ở năm thứ nhất.

 

Chi tiết bài viết

Tài liệu tham khảo

1. World Health Organization; UNICEF; UNU. Iron Deficiency Anaemia: Assessment, Prevention and Control – A Guide for Programme Managers. Geneva: World Health Organization, 15–38 (2001).
2. Kassebaum N.J., Jasrasaria R., Naghavi M., et al. A systematic analysis of global anemia burden from 1990 to 2010. Blood 123(5), 615–624 (2014). doi:10.1182/blood-2013-06-508325.
3. Nguyễn Thị Hương Giang, Phan Thị Tố Như, và cộng sự. Tình trạng thiếu máu do thiếu sắt ở sinh viên năm thứ nhất Trường Đại học Dược Hà Nội, năm học 2018–2019. Tạp chí Y học Việt Nam 528(1), 101–106 (2020).
4. Cappellini M.D., Musallam K.M., Taher A.T. Iron deficiency anaemia revisited. Journal of Internal Medicine 286, 153–170 (2019).
5. Huỳnh Minh Chín, Trần Phương Nam, Nguyễn Minh Đăng, Trần Thị Phương Lan. Kiến thức, thực hành phòng thiếu máu dinh dưỡng ở phụ nữ độ tuổi sinh đẻ đến khám tại Bệnh viện Đa khoa tỉnh Bình Dương năm 2019. Tạp chí Y học Cộng đồng 63(1), (2022).
6. Finer L.B., Philbin J.M. Sexual initiation, contraceptive use, and pregnancy among young adolescents. Pediatrics 131(5), 886–891 (2013).
7. Song Tú, Nguyễn Phương Linh, Nguyễn Thúy Anh, Đỗ Thúy Lê. Tình trạng thiếu máu thiếu sắt, dự trữ sắt ở trẻ gái 11–13 tuổi vùng dân tộc tỉnh Yên Bái, năm 2018. Tạp chí Y học Việt Nam 518(1), (2022). doi:10.51298/vmj.v518i1.3353.