Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns <ul> <li> <h3><strong>T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch của tạp ch&iacute;:</strong></h3> </li> <li>Th&ocirc;ng tin, tuy&ecirc;n truyền v&agrave; phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng v&agrave; ch&iacute;nh s&aacute;ch, ph&aacute;p luật của Nh&agrave; nước trong lĩnh vực dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm;</li> <li>Phổ biến những th&agrave;nh tựu khoa học, c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu, kiến thức khoa học trong nước v&agrave; quốc tế về dinh dưỡng, thực phẩm v&agrave; c&aacute;c lĩnh vực c&oacute; li&ecirc;n quan.</li> <li>Đăng tải c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học về dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm, về vệ sinh ăn uống v&agrave; an to&agrave;n thực phẩm nhằm hỗ trợ nghi&ecirc;n cứu v&agrave; đ&agrave;o tạo cho c&aacute;c bộ chuy&ecirc;n ng&agrave;nh trong to&agrave;n quốc, nhằm cung cấp c&aacute;c kiến thức v&agrave; kỹ thuật mới &aacute;p dụng ở cộng đồng v&agrave; ph&ograve;ng th&iacute; nghiệm;</li> <li>L&agrave; diễn đ&agrave;n trao đổi học thuật v&agrave; th&ocirc;ng tin về khoa học dinh dưỡng, khoa học thực phẩm v&agrave; c&aacute;c lĩnh vực kh&aacute;c c&oacute; li&ecirc;n quan của tất cả c&aacute; nh&acirc;n v&agrave; tổ chức đang đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu, hoạt động nghề nghiệp, cung cấp v&agrave; t&igrave;m kiếm dịch vụ về c&aacute;c nội dung tr&ecirc;n;</li> <li>L&agrave; diễn đ&agrave;n trao đổi về hoạt động triển khai v&agrave; kinh nghiệm của ng&agrave;nh dinh dưỡng v&agrave; vệ sinh an to&agrave;n thực phẩm, nhằm thực hiện c&aacute;c mục ti&ecirc;u của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng 2021&ndash;2030, tầm nh&igrave;n đến 2045;</li> <li>G&oacute;p phần x&acirc;y dựng thương hiệu, uy t&iacute;n để n&acirc;ng cao vị thế của Hội Dinh dưỡng Việt Nam trong hoạt động hội nghị, hội thảo, đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; phục vụ cộng đồng. Phản &aacute;nh c&aacute;c hoạt động của ng&agrave;nh dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm của Việt Nam v&agrave; khu vực.</li> <li><strong>Đối tượng phục vụ:</strong></li> <li>Giảng vi&ecirc;n, nghi&ecirc;n cứu sinh, học vi&ecirc;n cao học v&agrave; sinh vi&ecirc;n c&aacute;c chuy&ecirc;n ng&agrave;nh c&oacute; li&ecirc;n quan đến dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm;</li> <li>C&aacute;c nh&agrave; khoa học, đ&agrave;o tạo l&agrave;m trong lĩnh vực c&oacute; li&ecirc;n quan đến dinh dưỡng, thực phẩm, vệ sinh an to&agrave;n thực phẩm, c&ocirc;ng nghệ thực phẩm, n&ocirc;ng nghiệp...;</li> <li>Những người l&agrave;m việc trong ng&agrave;nh y tế v&agrave; c&aacute;c bộ ng&agrave;nh l&agrave;m c&ocirc;ng t&aacute;c c&oacute; li&ecirc;n quan đến dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm;</li> <li>C&aacute;n bộ quản l&yacute; v&agrave; bạn đọc c&oacute; quan t&acirc;m.</li> </ul> <p>&nbsp;</p> Hội Dinh dưỡng Việt Nam vi-VN Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 1859-0381 NGHIÊN CỨU MỘT SỐ YẾU TỐ CÔNG NGHỆ ẢNH HƯỞNG ĐẾN CHẤT LƯỢNG SẢN PHẨM LẠP XƯỞNG BÒ https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1031 Mục tiêu: Khảo sát một số yếu tố công nghệ ảnh hưởng đến chất lượng sản phẩm lạp xưởng bò nhằm xác định thông số thích hợp cho quy trình chế biến. Phương pháp: Thí nghiệm được bố trí nhằm đánh giá ảnh hưởng của tỷ lệ phối trộn thịt bò nạc – mỡ heo, nhiệt độ sấy và thời gian bảo quản trong điều kiện bao gói chân không đến các chỉ tiêu chất lượng của sản phẩm. Kết quả: Sản phẩm lạp xưởng bò với tỷ lệ 70% thịt bò nạc và 30% mỡ heo; sấy ở 60°C cho chất lượng cảm quan tốt lượng NH3 và độ ẩm đạt yêu cầu. Sản phẩm bảo quản tốt ở điều kiện nhiệt độ thường trong 3 tuần khi bao gói chân không. Kết luận: Các thông số công nghệ trên phù hợp để sản xuất lạp xưởng bò có chất lượng ổn định và khả năng bảo quản tốt. Ths Phan Uyên Nguyên Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-07-01 2026-07-01 22 4 36 47 10.56283/1859-0381/1031 ẢNH HƯỞNG CỦA ĐIỀU KIỆN CHẾ BIẾN ĐẾN HÀM LƯỢNG PHENOLIC TỔNG, HOẠT TÍNH KHÁNG OXY HÓA VÀ CHẤT LƯỢNG CẢM QUAN ĐẾN TRÀ TÚI LỌC TỪ LÁ MẬT GẤU (Vernonia amygdalina) https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1089 Mục tiêu: Nghiên cứu được thực hiện nhằm xây dựng quy trình sản xuất và phát triển sản phẩm trà túi lọc từ lá mật gấu (Vernonia amygdalina) thông qua khảo sát ảnh hưởng của điều kiện sấy, tỷ lệ phối trộn nguyên liệu và điều kiện pha trà đến chất lượng của nước trà. Phương pháp: Nghiên cứu được thực hiện ở quy mô phòng thí nghiệm. Lá mật gấu sau sơ chế được sấy ở các mức nhiệt độ 60, 70 và 80°C trong thời gian 2, 4 và 6 giờ. Nguyên liệu sau sấy được phối trộn với cỏ ngọt và cam thảo theo các tỷ lệ 1:1:1, 2:1:1, 3:1:1 và 4:1:1. Sản phẩm trà túi lọc được khảo sát ảnh hưởng của lượng nước pha 120, 150 và 170 mL/túi, cùng thời gian hãm 3, 5 và 7 phút ở 95°C. Các chỉ tiêu đánh giá gồm độ ẩm, hàm lượng phenolic tổng, hoạt tính kháng oxy hóa theo DPPH và chất lượng cảm quan của nước trà. Tất cả thí nghiệm được thực hiện lặp lại 3 lần để lấy số liệu xử lý thống kê. Kết quả: Điều kiện sấy ở 60°C trong 6 giờ giúp lá mật gấu đạt độ ẩm dưới 8%, đồng thời duy trì hàm lượng phenolic tổng và hoạt tính kháng oxy hóa cao nhất trong các nghiệm thức thu được đạt yêu cầu. Tỷ lệ phối trộn lá mật gấu/cỏ ngọt/cam thảo là 2:1:1 cho chất lượng cảm quan tốt nhất, trong khi vẫn duy trì hàm lượng phenolic tổng và hoạt tính DPPH đáng kể. Đối với điều kiện pha, lượng nước 150 mL/túi 3 g và thời gian hãm 5 phút ở 95°C tạo nước trà có màu sắc, mùi, vị và độ trong hài hòa. Kết quả nghiên cứu cho thấy tiềm năng phát triển trà túi lọc từ lá mật gấu có giá trị sinh học và chất lượng cảm quan phù hợp. Kết luận: Kết quả nghiên cứu đã hoàn thiện được các thông số công nghệ cho quy trình sản xuất trà túi lọc từ lá mật gấu, cho thấy tiềm năng trong việc phát triển sản phẩm đồ uống thảo mộc tự nhiên tiện lợi, có giá trị sinh học và chất lượng cảm quan phù hợp, góp phần nâng cao giá trị sử dụng của nguồn dược liệu dân gian. Trần Thị Mai Trần Thị Huệ Huỳnh Minh Hiền Trần Phước Nhật Uyên ThS Huỳnh Thành Đạt Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-22 2026-08-22 22 4 48 60 10.56283/1859-0381/1089 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỐI LIÊN QUAN VỚI KẾT CỤC ĐIỀU TRỊ Ở BỆNH NHI TIM MẠCH NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NHI ĐỒNG 2 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1115 Mục tiêu: Xác định tỷ lệ SDD theo WHO 2006, nguy cơ SDD theo thang đo Hội Nhi khoa Việt Nam (HNKVN) 2024 và mối liên quan với kết cục điều trị ở bệnh nhi ≤ 16 tuổi điều trị nội trú tại khoa Tim mạch, BV Nhi Đồng 2 năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang có theo dõi trên 229 bệnh nhân (từ 3/2025 – 8/2025), đánh giá bằng chỉ số nhân trắc đo trực tiếp và thang đo HNKVN 2024. Kết quả: SDD mạn, SDD cấp và nguy cơ SDD ở trẻ bệnh tim mạch lần lượt là 78,6%, 40,2% và 77,7%. Suy tim có tỷ lệ SDD cao nhất (p < 0,05). SDD cấp làm tăng nhu cầu nằm hồi sức (3,12 lần), nuôi ăn tĩnh mạch (2,38 lần) và qua sonde (2,67 lần); SDD mạn làm tăng nhu cầu nuôi ăn qua sonde (2,93 lần). Trẻ SDD cấp, SDD mạn và nguy cơ SDD có thời gian nằm viện dài hơn nhóm chứng (7 so với 6; 9,5 so với 5; 8 so với 3 ngày; p < 0,05). Kết luận: Tỷ lệ SDD ở bệnh nhi bệnh tim mạch điều trị nội trú rất cao. SDD làm tăng thời gian nằm viện cùng các nhu cầu can thiệp dinh dưỡng hỗ trợ. Đặng Trần Hoàng Oanh TS Nguyễn Thị Thu Hậu Trần Thị Hoài Phương Phạm Thị Ngọc Huệ Đào Thu Nguyệt Nguyễn Trung Bạo Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-06 2026-08-06 22 4 61 68 10.56283/1859-0381/1115 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG TRƯỚC PHẪU THUẬT VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN BIẾN CHỨNG SAU PHẪU THUẬT ĐƯỜNG TIÊU HÓA TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA ĐÔNG ANH NĂM 2024 – 2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1121 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan đến biến chứng sau phẫu thuật của người bệnh phẫu thuật đường tiêu hóa có chuẩn bị. Phương pháp: Nghiên cứu thuần tập tiến cứu được tiến hành trên 95 người bệnh phẫu thuật đường tiêu hóa có chuẩn bị tại Bệnh viện đa khoa Đông Anh. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng trước phẫu thuật của người bệnh theo BMI, chu vi vòng cánh tay (MUAC) lần lượt là 9,5% và 25,3%, tỷ lệ người bệnh có nguy cơ suy dinh dưỡng theo NRS-2002 là 22,1%. Tỷ lệ biến chứng sau phẫu thuật đường tiêu hóa là 28,4%. Phân tích đa biến cho thấy tuổi ≥60, trình độ học vấn dưới THPT và nguy cơ suy dinh dưỡng theo NRS-2002 là các yếu tố làm tăng nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật, với aRR (95%CI) lần lượt là 1,91 (1,03–3,55), 2,60 (1,35–5,03) và 2,00 (1,09–3,67) (p<0,05). Kết luận: Nguy cơ suy dinh dưỡng trước phẫu thuật ở người bệnh còn tương đối cao. Người bệnh ≥60 tuổi, trình độ học vấn dưới THPT và nguy cơ suy dinh dưỡng theo NRS-2002 làm tăng nguy cơ biến chứng sau phẫu thuật đường tiêu hóa. Đồng Thị Phương Nguyễn Thị Khánh Nam Nguyễn Trọng Hưng Hoàng Thị Thuý Nguyễn Thị Duyên Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-22 2026-08-22 22 4 69 77 10.56283/1859-0381/1121 THỰC TRẠNG LỰA CHỌN THỰC PHẨM AN TOÀN CỦA SINH VIÊN NGÀNH ĐIỀU DƯỠNG VÀ DƯỢC TẠI TRƯỜNG ĐẠI HỌC Y-DƯỢC, ĐẠI HỌC THÁI NGUYÊN NĂM 2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1013 Mục tiêu: Đánh giá thực trạng lựa chọn thực phẩm an toàn của sinh viên ngành Điều dưỡng và Dược tại Trường Đại học Y-Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 1117 sinh viên ngành Điều dưỡng và Dược đang học tại Trường Đại học Y-Dược, Đại học Thái Nguyên năm 2025. Dữ liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi tự điền có cấu trúc. Số liệu được làm sạch, mã hóa, nhập bằng phần mềm Epidata 3.1 và xử lý, phân tích bằng phần mềm SPSS 26.0. Kết quả: Có 82,9% sinh viên có kiến thức chung đúng về lựa chọn thực phẩm an toàn tuy nhiên kiến thức về đọc nhãn mác và nhận biết chứng nhận an toàn thực phẩm còn hạn chế đạt 52,1%. Tỷ lệ sinh viên có thái độ đúng đạt 79,4%, trong đó phần lớn sinh viên nhận thức được tầm quan trọng của thực phẩm an toàn đối với sức khỏe, nhưng thái độ đối với việc lựa chọn địa điểm mua thực phẩm an toàn là 48,2%. Tỷ lệ sinh viên có thực hành đúng về lựa chọn thực phẩm an toàn là 66,1%. Phần lớn sinh viên có thói quen kiểm tra hạn sử dụng và nguồn gốc thực phẩm, tuy nhiên việc ưu tiên lựa chọn sản phẩm có chứng nhận an toàn và đọc nhãn mác thực phẩm thường xuyên còn thấp. Kết luận: Còn tỷ lệ cao chiếm tới một phần ba số sinh viên chưa thực hành đúng về lựa chọn thực phẩm an toán. Cần tăng cường truyền thông giáo dục về dinh dưỡng và an toàn thực phẩm nhằm nâng cao kiến thức, thái độ và thực hành lựa chọn thực phẩm an toàn cho sinh viên ngành sức khỏe. Trương Thị Thùy Dương Sinh viên Nguyễn Việt Anh Hòa Thị Hồng Hạnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-04-03 2026-04-03 22 4 78 85 10.56283/1859-0381/1013 THỰC TRẠNG SỬ DỤNG THỰC PHẨM CHẾ BIẾN SẴN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA NGƯỜI DÂN TẠI XÃ HUỐNG THƯỢNG, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN TỈNH THÁI NGUYÊN https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1014 Mục tiêu: Mô tả thực trạng sử dụng thực phẩm chế biến sẵn và một số yếu tố liên quan của người dân tại xã Huống Thượng, thành phố Thái Nguyên, tỉnh Thái Nguyên. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, thu thập 294 phiếu ý kiến của người dân tại xã Huống Thượng. Kết quả: Tỷ lệ cao người dân sử dụng thực phẩm chế biến sẵn tại địa bàn nghiên cứu là 87,8%, người dân sử dụng chủ yếu là từ 25 đến 44 tuổi, chiếm 73,1%. Tỷ lệ sử dụng thực phẩm chế biến sẵn vào thời điểm bữa phụ trong ngày là chủ yếu (76,9%), tỷ lệ thấp nhất là bữa sáng với (9,5%). Tỷ lệ người dân có nhận thức về các vấn đền an toàn vệ sinh thực phẩn chiếm tỷ lệ khá cao. Chiếm tỷ lệ cao nhất là người dân quan tâm đến hạn sử dụng của sản phẩm sau đó đến thành phần dinh dưỡng, chiếm tỷ lệ thấp nhất là chất phụ gia có trong thực phẩm (57,1%). Tỷ lệ thực phẩm chế biến sẵn được sử dụng nhiều nhất là các thực phẩm được làm từ sữa, các chế phẩm từ sữa (93,2%). Có mối liên quan có ý nghĩa thống kê giữa giới tính nam và nơi của người dân với thực trạng sử dụng thực phẩm chế biến sẵn (p < 0,05). Nam giới có tỷ lệ sử dụng thực phẩm (91,1%) cao hơn giới nữ (82,5%) và tỷ lệ người dân có nhà ở gần các cửa hàng sử dụng thực phẩm chế biến sẵn (91,4%) cao hơn nhóm có nhà cách xa các cửa hàng (83,3%). Kết luận: Còn tỷ lệ cao người dân sử dụng thực phẩm chế biến sẵn tại địa bàn nghiên cứu. Cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe giúp người dân nâng cao khả năng lựa chọn thực phẩm chế biến sẵn phù hợp và an toàn. Trương Thị Thùy Dương Nguyễn Hải Đăng Trần Thị Huyền Trang Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-04-19 2026-04-19 22 4 86 94 10.56283/1859-0381/1014 KIẾN THỨC, THỰC HÀNH DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI CHĂM SÓC TRẺ VÀ ĐA DẠNG THỰC PHẨM TRONG KHẨU PHẦN ĂN CỦA TRẺ 3–5 TUỔI Ở KHU VỰC MIỀN NÚI TỈNH NGHỆ AN NĂM 2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1102 Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thực hành dinh dưỡng của người chăm sóc trẻ và đa dạng thực phẩm trong khẩu phần ăn của trẻ 3-5 tuổi ở khu vực miền núi tỉnh Nghệ An. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang tiến hành tại 2 xã miền núi tỉnh Nghệ An, trên 250 người trực tiếp chăm sóc trẻ. Số liệuthu thập qua phỏng vấn bộ câu hỏi và đánh giá khẩu phần 24 giờ của trẻ. Kết quả: Tỷ lệ người chăm sóc đạt kiến thức và thực hành mức khá và tốt lần lượt là 55,6% và 64,4%, trong đó người trực tiếp chăm sóc trẻ là mẹ có thực hành tốt hơn so với ông bà hoặc bố (p=0,033). Điểm đa dạng thực phẩm (DDS) tại nhà ở mức thấp (3,84 điểm) nhưng nhờ bữa ăn bán trú, điểm DDS 24 giờ của trẻ đạt mức đa dạng (6,56 điểm). Trẻ có người chăm sóc đạt kiến thức, thực hành khá và tốt có điểm DDS tại nhà cao hơn đáng kể so với nhóm còn lại (p=0,002 và p=0,011). Kết luận: Phần lớn người chăm sóc trẻ tại địa bàn nghiên cứu có kiến thức và thực hành dinh dưỡng ở mức khá và tốt. Khẩu phần ăn của trẻ đạt ngưỡng đa dạng thực phẩm nhờ kết hợp với bữa ăn học đường. Khuyến nghị duy trì bữa ăn học đường và đẩy mạnh truyền thông tận dụng thực phẩm địa phương để cải thiện bữa ăn tại nhà. Đinh Thị Thanh Phượng TS Tuấn Thị Mai Phương TS Trần Thành Đô Nguyễn Ngọc Quang Lâm ThS Hà Huy Tuệ PGS.TS Nguyễn Quang Dũng Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-07-30 2026-07-30 22 4 95 105 10.56283/1859-0381/1102 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ VI CHẤT DINH DƯỠNG CỦA TRẺ TỪ 24 ĐẾN 60 THÁNG TUỔI TẠI MỘT SỐ TRƯỜNG MẦM NON THUỘC HUYỆN PHÚ LƯƠNG, TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1095 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và vi chất dinh dưỡng của trẻ từ 24 đến 60 tháng tuổi tại một số trường mầm non thuộc huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 206 trẻ từ 24 - 60 tháng tuổi tại hai trường mầm non xã Tức Tranh và Vô Tranh, huyện Phú Lương từ tháng 3-6 năm 2025. Đánh giá nhân trắc theo chuẩn WHO 2006; xét nghiệm máu gồm hemoglobin, sắt huyết thanh, kẽm huyết thanh, 25-OH-D3, và canxi. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là 11,2%, nhẹ cân 7,8%, gầy còm 3,4%, không ghi nhận thừa cân-béo phì. Tỷ lệ thiếu vitamin D là 98,5%, trong đó 80,1% thiếu nặng; tỷ lệ thiếu sắt là 28,6%, thiếu kẽm 23,8%, hạ canxi máu 21,8% và thiếu máu 22,8% với mức độ nhẹ là chủ yếu. Có 22,3% trẻ đồng thời thiếu máu và vitamin D. Kết luận: Trẻ mầm non tại địa bàn nghiên cứu đang đối mặt với gánh nặng kép về suy dinh dưỡng và thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là tình trạng thiếu vitamin D phổ biến ở mức báo động. Cần triển khai các biện pháp tăng cường phòng chống thiếu vi chất dinh dưỡng, đặc biệt là vitamin D tại địa bàn nghiên cứu. Hoàng Hà Linh Đoàn Huy Cường Lưu Liên Hương Lê Minh Khánh Lê Việt Anh Nguyễn Hữu Ngự Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-07-12 2026-07-12 22 4 106 115 10.56283/1859-0381/1095 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ DƯỚI 5 TUỔI TẠI KHOA NHI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2024 – 2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1107 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi tại Khoa Nhi – Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 158 trẻ dưới 5 tuổi đến khám và điều trị tại Khoa Nhi từ tháng 12/2024 đến tháng 04/2025. Số liệu được xử lý và phân tích bằng phần mềm Jamovi. Tình trạng dinh dưỡng được phân loại theo chuẩn WHO 2006 bằng phần mềm WHO Anthro. Trong nghiên cứu này, một trẻ được phân loại là suy dinh dưỡng khi trẻ có ít nhất một trong ba thể suy dinh dưỡng (nhẹ cân, thấp còi, gầy còm). Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi là (7,6%), tiếp theo là gầy còm (7,0%), nhẹ cân (2,5%) và thừa cân béo phì (1,9%). Trẻ từ 24–59 tháng tuổi có nguy cơ mắc suy dinh dưỡng cao gấp 3 lần so với nhóm dưới 2 tuổi. Trẻ sinh thiếu cân (<2500g) có nguy cơ suy dinh dưỡng cao gấp 20,1 lần so với nhóm sinh đủ cân (OR = 20,1; 95% CI:1,99 - 202,7). Ngoài ra, trẻ có mẹ ăn ít hơn bình thường trong thai kỳ và mẹ tăng cân dưới 10kg khi mang thai cũng có nguy cơ suy dinh dưỡng cao hơn rõ rệt (OR = 9,81; 95%CI: 1,98 - 48,40) và (OR = 3,38; 95% CI: 1,33 - 8,59). Kết luận: Tình trạng suy dinh dưỡng vẫn là vấn đề cần quan tâm ở trẻ dưới 5 tuổi. Trong đó, thấp còi là thể phổ biến nhất, tiếp đến là gầy còm và nhẹ cân. Yếu tố có liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ dưới 5 tuổi bao gồm: Tuổi của trẻ, cân nặng sơ sinh thấp, chế độ dinh dưỡng của bà mẹ trong thai kỳ, tăng cân thai kỳ không đủ. GS.TS. Lê Thị Hương ThS. Nguyễn Hà Thu ThS.BSNT. Vũ Ngọc Hà Mai H Điệp Hmŏk Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-16 2026-08-16 22 4 116 125 10.56283/1859-0381/1107 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ MẮC RỐI LOẠN PHỔ TỰ KỶ TẠI CÁC TRUNG TÂM CAN THIỆP, THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1106 Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng của trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ tại các trung tâm can thiệp, thành phố Hà Nội. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 164 trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ từ 2–12 tuổi tại 9 trung tâm can thiệp ở Hà Nội, từ 8/2025–12/2025. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá theo chỉ số Z-score bằng phần mềm WHO Anthro đối với trẻ dưới 5 tuổi và WHO AnthroPlus đối với trẻ từ 5 tuổi trở lên. Kết quả: Tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 5,6%, 7,9% và 5,5%. Đáng chú ý tỷ lệ thừa cân–béo phì ở nhóm 5–12 tuổi là 37,1%, cao hơn nhóm 2–<5 tuổi là 9,0%. Kết luận: Trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ tại các trung tâm can thiệp ở Hà Nội đang đối mặt với gánh nặng kép về dinh dưỡng, đặc biệt là tình trạng thừa cân–béo phì ở nhóm 5–12 tuổi. Cần triển khai sàng lọc dinh dưỡng định kỳ tại các trung tâm can thiệp nhằm phát hiện sớm và kiểm soát nguy cơ suy dinh dưỡng, thừa cân và béo phì ở trẻ mắc rối loạn phổ tự kỷ. Đỗ Thùy Dương Bùi Thị Nhung Lưu Ngọc Minh Phạm Thị Hạnh Đặng Minh Hảo Tống Thu Hà Đỗ Đặng Trúc An Phạm Minh Anh Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-07-27 2026-07-27 22 4 126 136 10.56283/1859-0381/1106 ĐẶC ĐIỂM NHÂN TRẮC VÀ TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA TRẺ VỊ THÀNH NIÊN 11 –14 TUỔI TẠI KHU VỰC THÀNH THỊ, VEN ĐÔ VÀ NÔNG THÔN Ở VIỆT NAM NĂM 2023 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1085 Mục tiêu: Mô tả và so sánh tình trạng dinh dưỡng của trẻ vị thành niên sớm 11–14 tuổi tại khu vực thành thị, ven đô và nông thôn miền núi ở Việt Nam năm 2023. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 1.608 trẻ 11–14 tuổi tại quận Đống Đa và huyện Đông Anh thuộc Thành phố Hà Nội và huyện Mộc Châu tỉnh Sơn La. Các chỉ số nhân trắc gồm cân nặng, chiều cao, chu vi vòng eo, chu vi vòng hông được đo trực tiếp. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng chỉ số Z-score chiều cao theo tuổi (HAZ) và Z-score BMI theo tuổi (BAZ) theo chuẩn WHO 2007. Kết quả: Các chỉ số nhân trắc tăng dần theo tuổi ở cả hai giới. Trẻ tại Đống Đa có cân nặng, chiều cao, BMI, HAZ và BAZ cao hơn so với trẻ tại Đông Anh và Mộc Châu (p<0,05). Tỷ lệ thấp còi cao nhất tại Mộc Châu (7,0%), trong khi tỷ lệ thừa cân (32,8%) và béo phì (9,1%) cao nhất tại Đống Đa (p<0,001). Kết luận: Tình trạng dinh dưỡng của trẻ khác biệt rõ rệt giữa các khu vực có mức độ đô thị hóa khác nhau. Kết quả phản ánh gánh nặng kép về dinh dưỡng ở trẻ vị thành niên Việt Nam, với thấp còi còn phổ biến ở khu vực nông thôn miền núi và thừa cân, béo phì gia tăng tại khu vực thành thị. Trần Thị Thu Trang Trương Tuyết Mai Đặng Trường Duy Vương Thị Hồ Ngọc Hoàng Thu Nga Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-06-18 2026-06-18 22 4 137 146 10.56283/1859-0381/1085 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN ĐẠI HỌC Y HÀ NỘI NĂM 2025‒2026 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1111 Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được tiến hành trên 220 người bệnh 20 tuổi trở lên được chẩn đoán đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện Đại học Y Hà Nội. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá theo chỉ số khối cơ thể BMI theo tiêu chuẩn của Tổ chức Y tế thế giới áp dụng cho người châu Á và Sáng kiến lãnh đạo toàn cầu về suy dinh dưỡng (GLIM) 2018. Các yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng được xác định bằng phân tích hồi quy logistic đa biến. Kết quả: Theo BMI, tỷ lệ người bệnh thiếu năng lượng trường diễn, thừa cân, béo phì và bình thường lần lượt là 5,9%, 20,9%, 22,3% và 50,9%. Theo tiêu chuẩn GLIM, tỷ lệ suy dinh dưỡng là 61,4% (57,3% mức độ vừa và 4,1% mức độ nặng). Một số yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của người bệnh là tuổi (OR = 1,03; p = 0,027), việc không được tư vấn dinh dưỡng (OR = 3,68; p < 0,001) và có từ 2 bệnh đồng mắc trở lên (OR = 2,53; p < 0,006). Kết luận: Suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM là tình trạng phổ biến ở người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú và có thể bị bỏ sót nếu chỉ đánh giá bằng BMI. Tuổi cao, không được tư vấn dinh dưỡng và có từ hai bệnh đồng mắc trở lên có liên quan độc lập với suy dinh dưỡng theo tiêu chuẩn GLIM. Lê Thị Thúy Hằng PGS.TS Nguyễn Thùy Linh Nguyễn Thị Thanh Hương Đỗ Thùy Dương Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-03 2026-08-03 22 4 147 157 10.56283/1859-0381/1111 HIỆU QUẢ CỦA VIỆC SỬ DỤNG THỰC PHẨM BỔ SUNG CANXI, VITAMIN D3 VÀ VITAMIN K2 TRÊN NỒNG ĐỘ VITAMIN D VÀ DẤU ẤN CHU CHUYỂN XƯƠNG Ở PHỤ NỮ TRUNG NIÊN TẠI BỆNH VIỆN THỐNG NHẤT https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1119 Mục tiêu: Đánh giá hiệu quả của việc sử dụng thực phẩm bổ sung chứa canxi, vitamin D3 và vitamin K2 trong 12 tuần lên nồng độ 25-OH vitamin D, β-CrossLaps (β-CTX) và mật độ khoáng xương (BMD) ở phụ nữ trung niên. Phương pháp: Thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên, nhãn mở trên 120 phụ nữ 40–60 tuổi không bị loãng xương. Đối tượng được phân ngẫu nhiên vào nhóm can thiệp (sử dụng 400mL thực phẩm bổ sung/ngày chứa 900 mg canxi, 800 IU vitamin D3 và 44,8 µg vitamin K2) hoặc nhóm chứng trong 12 tuần. Phân tích chính sử dụng mô hình ANCOVA hiệu chỉnh giá trị ban đầu. Các phân tích độ nhạy và phân tích bổ sung được thực hiện để kiểm định tính nhất quán của kết quả. Kết quả: Sau 12 tuần, nhóm can thiệp có nồng độ 25-OH vitamin D cao hơn nhóm chứng 2,49 ng/mL (chênh lệch trung bình hiệu chỉnh giá trị nền: 2,49 ng/mL, 95%CI: 1,17–3,81; p<0,001). β-CTX giảm 5,6% nhưng chưa đạt ý nghĩa thống kê (tỷ số trung bình nhân: 0,944,95%CI: 0,830-1,074, p=0,379), đồng thời không ghi nhận sự khác biệt về mật độ khoáng xương và T-score. Tuy nhiên, nhóm can thiệp có tỷ lệ đạt đáp ứng giảm β-CTX ≥20% và cải thiện tình trạng vitamin D cao hơn nhóm chứng (p<0,05). Phân tích trung gian cho thấy tác động của can thiệp lên β-CTX có thể thông qua trung gian bởi sự gia tăng nồng độ 25-OH vitamin D. Kết luận: Sử dụng thực phẩm bổ sung chứa canxi, vitamin D3 và vitamin K2 trong 12 tuần giúp cải thiện đáng kể tình trạng vitamin D ở phụ nữ trung niên và có tiềm năng làm giảm hủy xương thông qua cải thiện tình trạng vitamin D. Trần Quốc Cường Hoàng Quốc Nam Nguyễn Hoàng Lan Phương Trần Thị Minh Nguyệt Công Huyền Tôn Nữ Bảo Liên Trần Thị Phương Lan Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-23 2026-08-23 22 4 158 169 10.56283/1859-0381/1119 XÁC ĐỊNH CHỈ SỐ ĐƯỜNG HUYẾT CỦA MỘT SỐ SẢN PHẨM DINH DƯỠNG https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1099 Mục tiêu: Xác định chỉ số đường huyết của 7 sản phẩm dinh dưỡng: Gippsnature Diabetes, Värna Hepacare, Värna Recovery, Värna RenalCare 1, Värna RenalCare 2, Värna Life sữa hạt công thức và Värna Life sữa hạt công thức pha sẵn. Phương pháp: Nghiên cứu thử nghiệm lâm sàng lặp lại trên cùng một nhóm đối tượng, được thực hiện trên 14 người tình nguyện khỏe mạnh (phân tích số liệu trên 10 người cho mỗi sản phẩm). Các đối tượng có độ tuổi từ 18 đến 35, không mắc bệnh đái tháo đường hay bệnh mạn tính, không có thai hoặc đang cho con bú. Mỗi đối tượng được cho sử dụng thực phẩm đối chứng (glucose) và thực phẩm thử nghiệm chứa 25g carbohydrate khả dụng. Đường huyết mao mạch được đo bằng máy đo cá nhân tại các thời điểm: 0, 15, 30, 60, 90 và 120 phút sau ăn. Chỉ số đường huyết được tính dựa trên tỷ lệ diện tích tăng lên dưới đường cong (IAUC) của thực phẩm thử nghiệm so với glucose. Kết quả: Chỉ số đường huyết của sản phẩm Gippsnature Diabetes là 26,3 ± 2,9; Värna Hepacare là 43,2 ± 5,0; Värna Recovery là 46,9 ± 4,0; Värna RenalCare 2 là 48,6 ± 4,2; Värna Life sữa hạt công thức là 36,1 ± 3,0; Värna Life sữa hạt công thức pha sẵn là 35,6 ± 5,0; tất cả đều thuộc mức thấp. Riêng sản phẩm Värna RenalCare 1 có chỉ số đường huyết là 60,5 ± 4,8; thuộc mức trung bình. Kết luận: Có 6 sản phẩm có chỉ số đường huyết thấp (GI<55) và 1 sản phẩm có chỉ số đường huyết trung bình (56-69), cho thấy phù hợp sử dụng trong chế độ ăn kiểm soát đường huyết, góp phần đa dạng các lựa chọn dinh dưỡng cho người mắc bệnh mạn tính và phục hồi sức khỏe. CN Hồ Mỹ Duyên BS.CKI Nguyễn Thị Ngọc Hương THS Lê Thị Hồng Nhung CN Đoàn Hoàng Anh Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-22 2026-08-22 22 4 170 179 10.56283/1859-0381/1099 ĐÁNH GIÁ HÀM LƯỢNG NATRI VÀ KALI CÔNG BỐ TRÊN NHÃN SO VỚI KẾT QUẢ KIỂM NGHIỆM TỪ CÁC SẢN PHẨM MUỐI VÀ GIA VỊ GIẢM NATRI TẠI VIỆT NAM https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1061 Mục tiêu: Đánh giá mức độ công bố thông tin dinh dưỡng trên nhãn và sự phù hợp giữa hàm lượng natri, kali công bố với kết quả phân tích phòng thí nghiệm của một số sản phẩm muối giảm natri lưu hành trên thị trường Việt Nam. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang trên 9 mẫu muối và gia vị giảm natri đang lưu hành tại Việt Nam. Thông tin ghi nhãn dinh dưỡng được thu thập và đối chiếu với các quy định hiện hành; hàm lượng natri và kali công bố trên nhãn được so sánh với kết quả phân tích phòng thí nghiệm. Mức độ phù hợp được đánh giá theo độ không xác định đo ±10% và ±20%. Kết quả: Chỉ tiêu khối lượng tịnh và tên cơ sở sản xuất được công bố đầy đủ ở tất cả sản phẩm (100%). Natri được công bố ở 88,9% sản phẩm, kali 55,6%, năng lượng 22,2%. So sánh kết quả xét nghiệm với giá trị công bố cho thấy 33,3% sản phẩm xét nghiệm natri cao hơn mức công bố, 22,2-55,6% xét nghiệm kali cao hơn mức công bố; 33,3% sản phẩm xét nghiệm có natri mặc dù không công bố trên nhãn, tỷ lệ này với kali là 44,4%. Kết luận: Có sự không nhất quán trong ghi nhãn dinh dưỡng và khác biệt giữa hàm lượng natri, kali công bố so với kiểm nghiệm ở các sản phẩm. Tăng cường mức độ thực thi các quy định về ghi nhãn dinh dưỡng, độ chính xác của các thông tin công bố trên nhãn và truyền thông với người tiêu dùng là cần thiết, tạo điều kiện cho người tiêu dùng lựa chọn sản phẩm phù hợp, góp phần dự phòng bệnh không lây nhiễm. TS Hoàng Thị Đức Ngàn Hoàng Thị Thảo Nghiên Ngô Hồng Vượng Nguyễn Thị Hồng Diễm Vũ Hoàng Dương Tạ Thị Thanh Bình Nguyễn Thị Hoa Huyền Kiều Quang Tuân LAND Marry-Anne Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-28 2026-08-28 22 4 180 188 10.56283/1859-0381/1061 TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 3 TUỔI BỊ KHÒ KHÈ TÁI DIỄN TẠI BỆNH VIỆN E NĂM 2025–2026 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1125 Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng và một số yếu tố liên quan ở trẻ dưới 3 tuổi bị khò khè tái diễn điều trị nội trú tại Bệnh viện E năm 2025–2026. Phương pháp: Nghiên cứucắt ngang trên 69 trẻ từ 2 đến 36 tháng tuổi, được chẩn đoán khò khè tái diễn (≥ 3 đợt/12 tháng) điều trị tại Bệnh viện E từ 1/ 2025 đến 6/2026, được đánh giá bằng nhân trắc học theo đồng thuận của Hội Nhi khoa Việt Nam, định lượng nồng độ 25(OH)D, sắt, kẽm trong huyết thanh và một số yếu tố liên quan được phân tích bằng hồi quy logistic đa thức. Kết quả: Tuổi trung bình của trẻ là 20,33 ± 7,94 tháng; trai (53,6%). Tỷ lệ suy dinh dưỡng (SDD) nhẹ cân, thấp còi và gầy còm lần lượt là 1,4%, 15,9% và 2,9%; tỷ lệ có nguy cơ SDD nhẹ cân (40,6%), thấp còi (53,6%) và gầy còm (7,2%). Tỷ lệ nồng độ 25(OH)D <30 ng/ml (49,3%), 25(OH)D < 20 ng/mL (13,0%), giảm kẽm (47,8%) và giảm sắt (82,6%). Trẻ có chế độ ăn không đạt có odds nhóm nguy cơ SDD nhẹ cân cao hơn (aOR = 5,32; p = 0,015) và odds SDD thấp còi cao hơn nhóm không SDD (aOR = 13,99; p = 0,021). Việc Không bổ sung vitamin D có liên quan đến việc làm tăng odds nhóm nguy cơ SDD nhẹ cân (aOR=14,17; p=0,028). Bổ sung vitamin D với (aOR = 0,036; p < 0,001) và tuổi hiện tại >24 tháng với (aOR = 0,324; p = 0,042) là 2 yếu tố độc lập ảnh hưởng nồng độ 25(OH)D. Kết luận: Trẻ dưới 3 tuổi bị khò khè tái diễn có tỷ lệ suy dinh dưỡng thể thấp còi và bất thường vi chất dinh dưỡng đáng lưu ý. Một số yếu tố về chế độ ăn và bổ sung vitamin D có liên quan với tình trạng dinh dưỡng và nồng độ 25(OH)D. Cần quan tâm đánh giá dinh dưỡng và vi chất ở nhóm trẻ này. Đặng Thị Ngọc Sen TS Lưu Thị Mỹ Thục Ninh Thị Phương Mai Lê Thị Thu Phương Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-08-28 2026-08-28 22 4 189 198 10.56283/1859-0381/1125 YOGA VÀ HÀNH VI ĂN UỐNG THEO CẢM XÚC: GÓC NHÌN TỪ CƠ CHẾ THẦN KINH - NỘI TIẾT VÀ CHUYỂN HOÁ https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1043 Mục tiêu: Tổng hợp và phân tích các bằng chứng khoa học về vai trò của Yoga cổ điển (bao gồm Asana, Pranayama và Thiền định) trong việc điều hòa các hormon kiểm soát sự thèm ăn (ghrelin, leptin, adiponectin), cũng như ảnh hưởng của các hormon này đối với hành vi ăn uống theo cảm xúc (Emotional Eating - EE) ở người trưởng thành. Phương pháp: Nghiên cứu sử dụng phương pháp tổng quan mô tả, dữ liệu được thu thập từ các cơ sở dữ liệu học thuật uy tín như PubMed, ScienceDirect và Google Scholar trong 10 năm, giai đoạn 2014–2024. Các tiêu chí lựa chọn tập trung vào các nghiên cứu can thiệp Yoga cổ điển, các bài đánh giá hệ thống liên quan đến cơ chế nội tiết của Yoga đối với trục HPA (Hypothalamic - Pituitary - Adrenal axis: trục Hạ đồi - Tuyến yên - Tuyến thượng thận, hệ thống điều hòa đáp ứng stress trung tâm của cơ thể) và các hormon chuyển hóa ở người trưởng thành hoặc đối tượng có hành vi ăn uống theo cảm xúc. Kết quả: Các bằng chứng cho thấy Yoga cổ điển giúp giảm nồng độ cortisol thông qua việc điều hòa trục HPA và hệ thần kinh tự chủ, từ đó làm giảm tín hiệu kích thích cảm giác đói giả, không phải các cơn đói cảm giác. Cụ thể, thực hành Yoga đều đặn giúp tăng nồng độ leptin và adiponectin (hormon báo no và chống viêm), đồng thời giảm nồng độ ghrelin (hormon gây đói), giúp cải thiện khả năng tự điều chỉnh hành vi ăn uống và giảm các cơn thèm ăn do căng thẳng. Kết luận: Yoga cổ điển không chỉ là một phương pháp rèn luyện thể chất mà còn là một phương án can thiệp tiềm năng trong việc điều chỉnh rối loạn nội tiết liên quan đến hành vi ăn uống. Việc tích hợp Yoga vào lối sống hằng ngày có thể giúp cá nhân kiểm soát hành vi ăn uống theo cảm xúc một cách bền vững thông qua cơ chế cân bằng hormon và tăng cường nhận thức nội quan. Shon Lê Nhân Nguyễn Thị Hồng Ngân Trần Gia Quí Thái Tuấn Tiến sĩ Trần Ngọc Bửu Tiến sĩ Lâm Khắc Kỷ Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 22 4 1 23 10.56283/1859-0381/1043 ĐƯỜNG HUYẾT MAO MẠCH VÀ HBA1C TRONG QUẢN LÝ ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2: MỐI LIÊN HỆ VÀ ỨNG DỤNG LÂM SÀNG https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1034 Kiểm soát đường huyết hiệu quả là mục tiêu cốt lõi trong quản lý bệnh đái tháo đường (ĐTĐ) týp 2 nhằm ngăn chặn sự tiến triển bệnh và giảm nguy cơ biến chứng lâu dài. Mục tiêu của bài tổng quan tập trung phân tích mối liên hệ giữa đường huyết mao mạch và hemoglobin A1c (HbA1c), đồng thời tối ưu hóa việc kiểm soát đường huyết ở người bệnh ĐTĐ týp 2. Tổng hợp kết quả từ các nghiên cứu gần đây cho thấy đường huyết mao mạch và HbA1c có mối liên quan chặt chẽ với nhau, tuy nhiên vẫn có sự ảnh hưởng do biến thiên đường huyết và các yếu tố cá thể. Do đó, việc sử dụng HbA1c đơn lẻ không phản ánh đầy đủ tình trạng kiểm soát đường huyết thực tế. Việc kết hợp HbA1c và đường huyết mao mạch đóng góp vào việc tối ưu hóa kiểm soát và điều trị bệnh. Xu hướng sử dụng tích hợp công nghệ hiện đại trong quản lý bệnh ĐTĐ týp 2 đang được quan tâm và áp dụng nhờ khả năng phân tích nhiều chỉ số và công nghệ theo dõi đường huyết, từ đó đưa ra các giải pháp điều trị và cải thiện tình trạng cho người bệnh. Dương Thúy Quỳnh Lâm Khắc Kỷ Trần Ngọc Bửu Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-05-21 2026-05-21 22 4 24 35 10.56283/1859-0381/1034