Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns <ul> <li> <h3><strong>T&ocirc;n chỉ, mục đ&iacute;ch của tạp ch&iacute;:</strong></h3> </li> <li>Th&ocirc;ng tin, tuy&ecirc;n truyền v&agrave; phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng v&agrave; ch&iacute;nh s&aacute;ch, ph&aacute;p luật của Nh&agrave; nước trong lĩnh vực dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm;</li> <li>Phổ biến những th&agrave;nh tựu khoa học, c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu, kiến thức khoa học trong nước v&agrave; quốc tế về dinh dưỡng, thực phẩm v&agrave; c&aacute;c lĩnh vực c&oacute; li&ecirc;n quan.</li> <li>Đăng tải c&aacute;c c&ocirc;ng tr&igrave;nh nghi&ecirc;n cứu khoa học về dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm, về vệ sinh ăn uống v&agrave; an to&agrave;n thực phẩm nhằm hỗ trợ nghi&ecirc;n cứu v&agrave; đ&agrave;o tạo cho c&aacute;c bộ chuy&ecirc;n ng&agrave;nh trong to&agrave;n quốc, nhằm cung cấp c&aacute;c kiến thức v&agrave; kỹ thuật mới &aacute;p dụng ở cộng đồng v&agrave; ph&ograve;ng th&iacute; nghiệm;</li> <li>L&agrave; diễn đ&agrave;n trao đổi học thuật v&agrave; th&ocirc;ng tin về khoa học dinh dưỡng, khoa học thực phẩm v&agrave; c&aacute;c lĩnh vực kh&aacute;c c&oacute; li&ecirc;n quan của tất cả c&aacute; nh&acirc;n v&agrave; tổ chức đang đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu, hoạt động nghề nghiệp, cung cấp v&agrave; t&igrave;m kiếm dịch vụ về c&aacute;c nội dung tr&ecirc;n;</li> <li>L&agrave; diễn đ&agrave;n trao đổi về hoạt động triển khai v&agrave; kinh nghiệm của ng&agrave;nh dinh dưỡng v&agrave; vệ sinh an to&agrave;n thực phẩm, nhằm thực hiện c&aacute;c mục ti&ecirc;u của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng 2021&ndash;2030, tầm nh&igrave;n đến 2045;</li> <li>G&oacute;p phần x&acirc;y dựng thương hiệu, uy t&iacute;n để n&acirc;ng cao vị thế của Hội Dinh dưỡng Việt Nam trong hoạt động hội nghị, hội thảo, đ&agrave;o tạo, nghi&ecirc;n cứu khoa học v&agrave; phục vụ cộng đồng. Phản &aacute;nh c&aacute;c hoạt động của ng&agrave;nh dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm của Việt Nam v&agrave; khu vực.</li> <li><strong>Đối tượng phục vụ:</strong></li> <li>Giảng vi&ecirc;n, nghi&ecirc;n cứu sinh, học vi&ecirc;n cao học v&agrave; sinh vi&ecirc;n c&aacute;c chuy&ecirc;n ng&agrave;nh c&oacute; li&ecirc;n quan đến dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm;</li> <li>C&aacute;c nh&agrave; khoa học, đ&agrave;o tạo l&agrave;m trong lĩnh vực c&oacute; li&ecirc;n quan đến dinh dưỡng, thực phẩm, vệ sinh an to&agrave;n thực phẩm, c&ocirc;ng nghệ thực phẩm, n&ocirc;ng nghiệp...;</li> <li>Những người l&agrave;m việc trong ng&agrave;nh y tế v&agrave; c&aacute;c bộ ng&agrave;nh l&agrave;m c&ocirc;ng t&aacute;c c&oacute; li&ecirc;n quan đến dinh dưỡng v&agrave; thực phẩm;</li> <li>C&aacute;n bộ quản l&yacute; v&agrave; bạn đọc c&oacute; quan t&acirc;m.</li> </ul> <p>&nbsp;</p> Hội Dinh dưỡng Việt Nam vi-VN Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 1859-0381 GUT MICROBIOME AND MENTAL HEALTH: FROM MECHANISMS TO APPLICATIONS https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1008 Aims:This review aims to summarize current evidence on the relationship between gut microbiota alterations and mood disorders, particularly depression and anxiety, and to highlight the potential of targeting the gut microbiome to develop interventions that improve outcomes in these conditions. Methods: Relevant studies investigating gut microbiota composition, microbial metabolites, and microbiome-based interventions in depression and anxiety were analyzed to synthesize current findings and research directions. Results: Compared with healthy individuals, patients with depression and/or anxiety exhibit reduced bacterial diversity and imbalances in genera such as Lactobacillus and Bifidobacterium. These alterations in microbial diversity are closely linked to the hypothalamic–pituitary–adrenal (HPA) axis, neurotransmitter modulation, and immune activity, and may contribute to the pathogenesis of mood disorders. Recent studies have also reported that microbiome-based strategies, including probiotics, prebiotics, and fecal microbiota transplantation, show potential as supportive treatments for mental health conditions. Conclusion: Although growing evidence supports the role of the gut microbiome in mental health regulation, findings remain inconsistent across different populations. Further longitudinal and well–controlled studies are required to clarify causal relationships and support the development of personalized treatments. Tiến sĩ Nguyễn Thị Tuyết Nhung Thạc sĩ Sầm Hoa Mai Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-03-19 2026-03-19 22 2E 1 14 10.56283/1859-0381/1008 EFFECTS OF ROASTING AND BREWING CONDITIONS ON TOTAL POLYPHENOLS, ANTHOCYANINS, AND SENSORY QUALITY OF BLACK RICE TEA https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1021 Aims: To evaluate the variation in total polyphenol content (TPC), total anthocyanin content (TAC), and sensory quality of black rice tea under different roasting and brewing conditions, and to determine suitable processing parameters for production. Methods: The study was conducted using a single-factor experimental design. The effects of roasting time (8-14 min at 200°C), brewing time (5–20 min), and water temperature (80–100°C) on TPC, TAC, and sensory characteristics were sequentially investigated. The brewing ratio was 5 g of raw material per 100 mL of water. Results: Roasting for 12 min yielded the highest TPC and TAC values, reaching 32.55 mg GAE/100 mL and 2.49 mg/100 mL, respectively. During brewing, both parameters peaked at 15 min (31.12 mg GAE/100 mL and 3.62 mg/100 mL) and subsequently declined with prolonged extraction. A water temperature of 100°C provided optimal extraction efficiency. The combination of 12 min roasting and brewing at 100°C for 15 min resulted in the highest bioactive compound content and sensory quality. Conclusion: Roasting and brewing parameters significantly influence the bioactive composition and sensory attributes of black rice tea. The optimal processing condition was identified as roasting for 12 min followed by brewing at 100°C for 15 min. Vũ Thị Hạnh TS Phạm Thị Vinh Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-03-27 2026-03-27 22 2E 15 26 10.56283/1859-0381/1021 KHỐI LƯỢNG TẾ BÀO CƠ THỂ VÀ MỐI LIÊN QUAN ĐẾN TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN XƠ GAN https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1027 Mục tiêu: Suy dinh dưỡng thường gặp ở bệnh nhân xơ gan và làm tăng nguy cơ kết cục bất lợi. Khối tế bào cơ thể (BCM) là thành phần chuyển hóa hoạt động của khối không mỡ, có thể phản ánh tình trạng suy dinh dưỡng (SDD). Nghiên cứu này đánh giá mối liên quan giữa BCM với các đặc điểm dinh dưỡng và lâm sàng ở bệnh nhân xơ gan. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 133 bệnh nhân xơ gan trưởng thành. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá bằng thang điểm SGA. Thành phần cơ thể, bao gồm BCM, được đo bằng phân tích trở kháng điện sinh học đa tần số phân đoạn trực tiếp (InBody Co., Ltd., Seoul, Korea). Phân tích tương quan và hồi quy tuyến tính đa biến với phương pháp loại dần được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan độc lập với BCM. Kết quả: Tuổi trung bình của bệnh nhân là 57,99 ± 11,33; 89,5% nam giới. Theo SGA, 30,1% có dinh dưỡng bình thường, 58,6% SDD mức độ vừa hoặc nghi ngờ, và 11,3% SDD nặng. BCM giảm dần theo mức độ SDD: 30,56 ± 4,12 kg ở nhóm SGA A, 29,55 ± 4,78 kg ở nhóm SGA B và 26,91 ± 5,30 kg ở nhóm SGA C. Phân tích đa biến cho thấy SDD nặng (SGA C), tuổi cao và giới tính liên quan độc lập với BCM, trong khi điểm Child–Pugh không liên quan. Kết luận: Ở bệnh nhân xơ gan, BCM liên quan độc lập với suy dinh dưỡng nặng, tuổi và giới tính, nhưng không liên quan với mức độ nặng của bệnh gan. BCM có thể phản ánh suy dinh dưỡng và thành phần cơ thể hơn là mức độ suy chức năng gan đơn thuần. Phạm Đức Minh Bác sĩ Đỗ Quang Huy Nguyễn Tiến Mạnh Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-04-01 2026-04-01 22 2E 27 36 10.56283/1859-0381/1027 CENTRAL OBESITY AND ASSOCIATED FACTORS AMONG TYPE 2 DIABETES MELLITUS PATIENTS AT 19-8 HOSPITAL, 2024–2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/968 Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ béo phì trung tâm và xác định các yếu tố liên quan ở người bệnh đái tháo đường týp 2 tại Bệnh viện 19-8. Phương pháp: Nghiên cứu mô tả cắt ngang được thực hiện trên 179 người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú và ngoại trú tại Khoa Nội tiết – Đái tháo đường, từ tháng 11/2024 đến tháng 2/2025. Dữ liệu được thu thập thông qua phỏng vấn, đo nhân trắc, phân tích thành phần cơ thể và xét nghiệm cận lâm sàng. Hồi quy logistic được sử dụng để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả: Tỷ lệ béo phì trung tâm theo vòng eo là 68,7%, cao hơn rõ rệt ở nữ so với nam (p < 0,01). Tỷ số tăng vòng eo/vòng mông và vòng eo/chiều cao lần lượt là 81,6% và 89,9%. Tỷ lệ thừa cân – béo phì theo BMI là 60,3%, tuy nhiên chỉ 39,7% người tự nhận mình thừa cân và 52,5% cho biết không có ý định giảm cân. Các yếu tố liên quan đến béo phì trung tâm gồm: giới nữ (cOR = 12,57; 95%CI: 5,25–30,11), tuổi cao (cOR = 2,06; 95%CI: 1,00–4,24), tỷ lệ mỡ cơ thể cao (cOR = 9,70; 95%CI: 4,44–22,30), mỡ nội tạng cao (cOR = 6,49; 95%CI: 3,00–14,06), và thói quen tập thể dục có thiết bị (cOR = 4,50; 95%CI: 1,18–17,21) hoặc không có thiết bị (cOR = 3,75; 95%CI: 1,23–11,45). Kết luận: Béo phì trung tâm vẫn phổ biến ở người bệnh đái tháo đường týp 2, trong khi nhận thức sai lệch về hình thể còn phổ biến. Tư vấn dinh dưỡng cá thể hóa và theo dõi định kỳ là cần thiết để kiểm soát cân nặng, phòng ngừa biến chứng và nâng cao hiệu quả quản lý bệnh. Hoàng Thị Thu Hằng Nguyễn Phương Thảo Nguyễn Thị Thảo Vũ Trần Tiến Nguyễn Phương Mai Nguyễn Trần Khánh Linh Phạm Tuấn Dương Lê Thị Hương Giang Lê Xuân Hưng Nguyễn Trọng Hưng Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2024-11-27 2024-11-27 22 2E 37 46 10.56283/1859-0381/968 FROM PLATE TO PATIENT: FACTORS INFLUENCING SATISFACTION AND MEAL CONSUMPTION IN HOSPITALS https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/981 Aims: Hospital food services are essential for supporting nutritional intake during hospitalization, but incomplete meal consumption remains common. This study evaluated inpatient satisfaction with hospital food services and factors associated with meal completion at Military Hospital 105, Vietnam. Methods: A cross-sectional study was conducted among 356 adult inpatients in Internal Medicine and Surgical wards. Data were collected through bedside interviews and medical record review. Satisfaction was assessed using a culturally adapted Vietnamese version of the Acute Care Hospital Foodservice Patient Satisfaction Questionnaire. Meal completion was defined as consumption of at least three-quarters of the meal served during the previous week. Factors associated with meal completion were examined using multivariable logistic regression. Results: The mean age was 49.6 ± 18.8 years, 54.8% were male, and 65.4% completed at least three-quarters of hospital meals. Overall satisfaction with the quality of food services was 86.24%, and domain-specific satisfaction ranged from 75.6% to 87.4%. Staff attitude and behavior received the highest satisfaction ratings, whereas food warmth and menu variety were the least satisfactory domains. In the final model, older age (OR 0.984; p=0.012), therapeutic diet (OR 0.537; p=0.026), and additional food intake outside hospital meals (OR 0.567; p=0.048) were negatively associated with meal completion, whereas satisfaction with food warmth was positively associated (OR 3.065; p<0.001). Conclusions: Food warmth, diet type, and outside food intake were key factors associated with meal completion. Improving meal temperature and the acceptability of therapeutic diets may enhance nutritional care during hospitalization. Phạm Đức Minh Phí Văn Khoa Chu Thị Hồng Ninh Lại Thị Hương Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-04-02 2026-04-02 22 2E 47 57 10.56283/1859-0381/981 NUTRITIONAL PRACTICES AND THEIR ASSOCIATION WITH MALNUTRITION AMONG CHILDREN UNDER FIVE YEARS HOSPITALIZED FOR ACUTE DIARRHEA IN 2025 https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1020 TÓM TẮT Mục tiêu: Mô tả chăm sóc dinh dưỡng trước – sau nhập viện; phân tích mối liên quan giữa suy dinh dưỡng (SDD) và một số yếu tố chăm sóc ở trẻ dưới 5 tuổi mắc tiêu chảy cấp (TCC). Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả – phân tích trên 197 trẻ TCC điều trị nội trú tại Khoa Tiêu hóa, Bệnh viện Nhi Đồng 2 (03–04/2025). Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá theo Z-score WHO 2006. Phân tích mối liên quan bằng Chi-square và hồi quy logistic. Kết quả: Tỷ lệ SDD chung là 37,3%; nhẹ cân 19,7%; thấp còi 22,7%; gầy còm 14,6%. Giảm khẩu phần ăn, pha oresol sai, ăn dặm sớm và nhẹ cân lúc sinh có liên quan có ý nghĩa với SDD (p<0,05). Kết luận: Thực hành chăm sóc dinh dưỡng chưa phù hợp trước nhập viện làm tăng nguy cơ SDD ở trẻ TCC. Từ khóa: suy dinh dưỡng, tiêu chảy cấp, chăm sóc dinh dưỡng, trẻ dưới 5 tuổi. TS.BSCK2 Nguyễn Thị Thu Hậu Phạm Vũ Khoa Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-04-28 2026-04-28 22 2E 58 64 10.56283/1859-0381/1020 ALLELE-SPECIFIC POLYMERASE CHAIN REACTION (AS-PCR) AS A TOOL FOR GENOTYPING KCNQ1 RS2237892 POLYMORPHISM https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1044 Aims: To developand validate a protocol of allele-specific polymerase chain reaction (AS-PCR) for detecting the KCNQ1 rs2237892 polymorphism. Methods: Genomic human DNA was extracted from peripheral blood samples of a population-based cohort in Ha Nam province, Vietnam. The AS-PCR protocol was optimized by adjusting annealing temperatures (Ta) and primer concentrations. To ensure accuracy, the genotyping results obtained from AS-PCR were validated against restriction fragment length polymorphism (RFLP) using the PvuII enzyme and direct Sanger sequencing in a subset of samples. Results: The optimal annealing temperature for the AS-PCR assay was determined to be 59°C, yielding a clear 392-bp diagnostic band. The AS-PCR method demonstrated 100% concordance with both RFLP and Sanger sequencing results across all tested genotypes (CC, CT, and TT). The protocol effectively discriminated between the risk allele (C) and the alternative allele (T) with high sensitivity and specificity. Conclusion: The established AS-PCR protocol provides a reliable and high-throughput tool for genotyping the KCNQ1 rs2237892 variant. Given its minimal equipment requirements and high accuracy, this method is well-suited for large-scale genetic epidemiological studies and clinical screening in resource-limited settings like Vietnam. Bùi Thị Thuý Nga Nguyễn Ánh Ngọc Vũ Lê Vân Anh PGS.TS Trần Quang Bình Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm 2026-04-28 2026-04-28 22 2E 65 78 10.56283/1859-0381/1044