Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns
<ul> <li> <h3><strong>Tôn chỉ, mục đích của tạp chí:</strong></h3> </li> <li>Thông tin, tuyên truyền và phổ biến chủ trương, đường lối của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước trong lĩnh vực dinh dưỡng và thực phẩm;</li> <li>Phổ biến những thành tựu khoa học, công trình nghiên cứu, kiến thức khoa học trong nước và quốc tế về dinh dưỡng, thực phẩm và các lĩnh vực có liên quan.</li> <li>Đăng tải các công trình nghiên cứu khoa học về dinh dưỡng và thực phẩm, về vệ sinh ăn uống và an toàn thực phẩm nhằm hỗ trợ nghiên cứu và đào tạo cho các bộ chuyên ngành trong toàn quốc, nhằm cung cấp các kiến thức và kỹ thuật mới áp dụng ở cộng đồng và phòng thí nghiệm;</li> <li>Là diễn đàn trao đổi học thuật và thông tin về khoa học dinh dưỡng, khoa học thực phẩm và các lĩnh vực khác có liên quan của tất cả cá nhân và tổ chức đang đào tạo, nghiên cứu, hoạt động nghề nghiệp, cung cấp và tìm kiếm dịch vụ về các nội dung trên;</li> <li>Là diễn đàn trao đổi về hoạt động triển khai và kinh nghiệm của ngành dinh dưỡng và vệ sinh an toàn thực phẩm, nhằm thực hiện các mục tiêu của Chiến lược Quốc gia về Dinh dưỡng 2021–2030, tầm nhìn đến 2045;</li> <li>Góp phần xây dựng thương hiệu, uy tín để nâng cao vị thế của Hội Dinh dưỡng Việt Nam trong hoạt động hội nghị, hội thảo, đào tạo, nghiên cứu khoa học và phục vụ cộng đồng. Phản ánh các hoạt động của ngành dinh dưỡng và thực phẩm của Việt Nam và khu vực.</li> <li><strong>Đối tượng phục vụ:</strong></li> <li>Giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học và sinh viên các chuyên ngành có liên quan đến dinh dưỡng và thực phẩm;</li> <li>Các nhà khoa học, đào tạo làm trong lĩnh vực có liên quan đến dinh dưỡng, thực phẩm, vệ sinh an toàn thực phẩm, công nghệ thực phẩm, nông nghiệp...;</li> <li>Những người làm việc trong ngành y tế và các bộ ngành làm công tác có liên quan đến dinh dưỡng và thực phẩm;</li> <li>Cán bộ quản lý và bạn đọc có quan tâm.</li> </ul> <p> </p>Hội Dinh dưỡng Việt Namvi-VNTạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm1859-0381ẢNH HƯỞNG CỦA VIỆC BỔ SUNG MATCHA VÀ XANTHAN GUM ĐẾN CHẤT LƯỢNG SỮA CHUA TRONG QUÁ TRÌNH BẢO QUẢN LẠNH
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/986
Mục tiêu: Nghiên cứu nhằm đánh giá ảnh hưởng của việc bổ sung bột matcha và xanthan gum đến chất lượng sữa chua trong quá trình bảo quản lạnh. Phương pháp: Sữa chua được bổ sung matcha ở tỷ lệ 0,1-0,5% và xanthan gum ở tỷ lệ 0-0,1%. Các chỉ tiêu phân tích bao gồm pH, độ nhớt, khả năng giữ nước, màu sắc, hàm lượng protein, mật độ L. bulgaricus và S. thermophilus, đồng thời thực hiện đánh giá cảm quan. Các mẫu được bảo quản ở 4 ± 2°C tại các thời điểm 1, 7, 14, 21 và 28 ngày nhằm khảo sát sự thay đổi chất lượng theo thời gian. Kết quả: Mẫu bổ sung matcha và xanthan gum ở tỷ lệ thích hợp giúp cải thiện độ nhớt, khả năng giữ nước và màu sắc của sữa chua mà không ảnh hưởng bất lợi đến mật độ vi khuẩn lactic. Các đặc tính cấu trúc và vi sinh được duy trì ổn định trong suốt thời gian bảo quản. Kết luận: Ở mẫu bổ sung 0,5% matcha và 0,1% xanthan gum được đánh giá là phù hợp nhất về chất lượng toàn diện của sữa chua và ổn định trong suốt 28 ngày bảo quản lạnh.TS. Nguyễn Thị QuyênPhạm Thị TràNguyễn Thị Thu Trang
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-03-122026-03-12223102510.56283/1859-0381/986CHẤT LƯỢNG CHẾ ĐỘ ĂN VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN Ở NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH TỪ 18-59 TUỔI TẠI HUYỆN QUẢNG ĐIỀN, THÀNH PHỐ HUẾ NĂM 2024
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1023
Mục tiêu: Đánh giá chất lượng chế độ ăn và tìm hiểu một số yếu tố liên quan ở người trưởng thành từ 18-59 tuổi tại huyện Quảng Điền, Thành phố Huế năm 2024. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 819 người từ 18 – 59 tuổi. Đánh giá chất lượng chế độ ăn dựa vào thang đo bộ câu hỏi đánh giá chất lượng khẩu phần Diet Quality Questionnaire. Kết quả: Đa số người trưởng thành - chọn thực phẩm làm tăng nguy cơ mắc bệnh không lây nhiễm (được thể hiện qua NCD-risk score không đạt là 82,1%); 52,5% đối tượng có điểm ngăn ngừa bệnh không lây nhiễm (NCD-protect score) của chế độ ăn đạt; 36,4% có chế độ ăn có điểm tuân thủ khuyến nghị chế độ ăn toàn cầu (GDR score) đạt. Các yếu tố liên quan đến chất lượng chế độ ăn của đối tượng nghiên cứu bao gồm: giới tính, nghề nghiệp, mắc bệnh mạn tính, với mức ý nghĩa p<0,05. Kết luận: Phần lớn đối tượng có chất lượng chế độ ăn chưa đảm bảo, thể hiện ở việc còn tiêu thụ nhiều thực phẩm làm tăng nguy cơ bệnh không lây nhiễm và tỷ lệ tuân thủ khuyến nghị dinh dưỡng toàn cầu còn thấp. Cần có các biện pháp can thiệp dinh dưỡng hiệu quả để nâng cao chất lượng chế độ ăn và giảm nguy cơ bệnh tật cộng đồng.Phạm Thị Thu HàĐặng Ngọc LinhLê Trương Mỹ DuyênNguyễn Quốc ViệtPhan Thị Phương NhungNguyễn Khoa Quỳnh ThơTrần Thị Táo
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-04-202026-04-20223263310.56283/1859-0381/1023KIẾN THỨC, THÁI ĐỘ, THỰC HÀNH VỀ SỬ DỤNG MUỐI TRONG KHẨU PHẦN CỦA NGƯỜI TRƯỞNG THÀNH Ở PHƯỜNG QUANG TRUNG, THÀNH PHỐ THÁI NGUYÊN, TỈNH THÁI NGUYÊN NĂM 2025
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1002
Mục tiêu: Đánh giá kiến thức, thái độ và thực hành (KAP) về sử dụng muối của người dân tại phường Quang Trung, thành phố Thái Nguyên năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 217 đối tượng (18-60 tuổi). Dữ liệu thu thập qua bộ câu hỏi cấu trúc, xử lý bằng EpiData 3.1 và SPSS 26.0. Kết quả: Tỷ lệ đối tượng có kiến thức và thái độ tốt lần lượt là 54,4% và 81,6%. Đa số nhận biết đúng thành phần của muối (86,6%) và mối liên quan giữa ăn mặn với các bệnh mạn tính (84,8%). Về thực hành, tỷ lệ đạt yêu cầu chung là 60,4%. Tuy nhiên, tồn tại khoảng cách lớn giữa nhận thức và kỹ năng khi chỉ 20,3% người dân biết cách ước lượng chính xác lượng muối tiêu thụ hàng ngày. Kết luận: KAP về sử dụng muối của người dân ở mức khá, nhưng kỹ năng định lượng còn hạn chế. Cần tăng cường truyền thông giáo dục sức khỏe trực quan, tập trung hướng dẫn cụ thể cách ước lượng muối trong chế biến thực phẩm để nâng cao hiệu quả phòng bệnh tại cộng đồng.Tiến sĩ Trương Thị Thùy DươngTrịnh Văn HiệpTrần Thị Huyền TrangLê Thị Thanh Hoa
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-03-262026-03-26223344110.56283/1859-0381/1002ĐÁNH GIÁ LƯỢNG CHẤT XƠ TRONG KHẨU PHẦN CỦA NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN E NĂM 2025
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1048
Mục tiêu: Đánh giá lượng chất xơ trong khẩu phần của người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện E năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 158 người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú tại Bệnh viện E năm 2025. Chất xơ khẩu phần của mỗi đối tượng được thu thập bằng phương pháp hỏi ghi khẩu phần 24 giờ qua và so sánh với khuyến nghị chất xơ cho người bệnh đái tháo đường týp 2 trong Hướng dẫn chế độ ăn bệnh viện của Bộ Y tế năm 2016. Kết quả: Lượng chất xơ trung bình trong khẩu phần 24h của người bệnh tham gia nghiên cứu là 5,7 ± 3,8g trong đó ở nam là6,2 ± 4,3 g và ở nữ là 5,3 ± 3,3 g. Mức đáp ứng lượng chất xơ trung bình ở người bệnh nam, nữ và chung cả 2 giới so với lượng chất xơ khuyến nghị lần lượt là 38,6%, 36,4%, 37,1%. Kết luận: Mức tiêu thụ chất xơ ở cả hai giới đều thấp hơn nhiều so với lượng chất xơ khuyến nghị cho người bệnh đái tháo đường. Cần có giải pháp để tăng cường chất xơ cho người bệnh đái tháo đường týp 2 điều trị nội trú.Phan Thị Hồng DiệuNguyễn Đỗ HuyNguyễn Thị Hồng Thắm
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-05-282026-05-28223424810.56283/1859-0381/1048KHẢO SÁT AN TOÀN THỰC PHẨM CỦA CÁC MÓN ĂN ĐƯỜNG PHỐ TẠI THÀNH PHỐ HÀ NỘI VÀ HẢI PHÒNG NĂM 2020
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1007
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng ô nhiễm vi sinh vật (E. coli, Coliform, vi khuẩn hiếu khí, nấm men mốc) và chất béo chuyển hóa của một số món ăn đường phố tại thành phố Hà Nội và Hải Phòng năm 2020. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang, thực hiện trên 320 mẫu món ăn đườngphố tại Hà Nội và Hải Phòng. Các mẫu được kiểm nghiệm chất béo chuyển hóa và các chỉ tiêu vi sinh vật bằng phương pháp chuẩn AOAC và ISO. Kết quả: Tỷ lệ các mẫu bị ô nhiễm vi sinh vật tại Hà Nội và Hải Phòng lần lượt là 27,8% (25/90 mẫu) và 42,2% (38/90 mẫu). Tỷ lệ các mẫu từ nhóm ngũ cốc và hạt có dầu bị nhiễm aflatoxin tại Hà Nội là 15%, tại Hải Phòng là 0%. Hàm lượng trung bình của chất béo chuyển hóa trên mẫu nem rán, bánh rán, thịt nướng tại Hà Nội và Hải phòng lần lượt là 0,51 g/100g và 0,46 g/100g. Kết luận: Một số món ăn đường phố tại Hà Nội và Hải Phòng còn tồn tại nguy cơ ô nhiễm vi sinh vật và chứa chất béo chuyển hóa. Cần tăng cường giám sát an toàn thực phẩm, kiểm soát nguyên liệu, quy trình chế biến và điều kiện bảo quản tại các cơ sở kinh doanh.Hoàng Thị Minh PhươngPGS.TS Vũ Thị Thu HiềnVương Thị Hồ NgọcNguyễn Thị DungTrần Hải HoaPhạm Tuấn AnhTrần Hoàng Lan
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-06-042026-06-04223495710.56283/1859-0381/1007ĐẶC ĐIỂM CƠ LỰC TAY Ở NGƯỜI BỆNH SUY THẬN MẠN LỌC MÁU CHU KỲ VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN TẠI BỆNH VIỆN ĐA KHOA THÀNH PHỐ CẦN THƠ NĂM 2026
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1055
Mục tiêu: Mô tả tỷ lệ giảm lực bóp tay và xác định một số yếu tố liên quan ở người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 228 người bệnh suy thận mạn lọc máu chu kỳ tại Bệnh viện Đa khoa thành phố Cần Thơ từ tháng 8 đến tháng 12/2025. Lực bóp tay được đo bằng lực kế; giảm lực bóp tay được xác định theo tiêu chuẩn AWGS 2019. Kết quả: Tỷ lệ giảm lực bóp tay ở người bệnh lọc máu chu kỳ là 81,1%. Trong mô hình hồi quy đa biến, giảm lực bóp tay có liên quan với suy dinh dưỡng (OR=5,42; p=0,002), không có việc làm (OR=2,52; p=0,033), và tuổi (OR=1,04; p=0,006). Kết luận: Giảm lực bóp tay là tình trạng phổ biến ở người bệnh lọc máu chu kỳ. Đo lực bóp tay bằng lực kế là phương pháp đơn giản, có thể cân nhắc sử dụng trong đánh giá chức năng cơ ở nhóm người bệnh này.Võ Thị Anh TrúcGiáo sư Lê Thị HươngĐỗ Thị Mỹ HườngTiến sĩ Phạm Thế Thạch
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-05-262026-05-26223586710.56283/1859-0381/1055SỰ KHÁC BIỆT VỀ ĐỊA LÝ TRONG SUY DINH DƯỠNG VÀ AN NINH LƯƠNG THỰC: NGHIÊN CỨU SO SÁNH TRẺ EM THÀNH THỊ VÀ NÔNG THÔN TỪ 0,5 ĐẾN 11,9 TUỔI
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1042
Mục tiêu: Nghiên cứu này nhằm mục đích đánh giá tỷ lệ suy dinh dưỡng và mất an ninh thực phẩm (ANTP) ở trẻ em từ 6 tháng đến 11,9 tuổi, tìm hiểu mối liên quan giữa ANTP và tình trạng suy dinh dưỡng giữa nhóm trẻ em thành thị và nông thôn. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang mô tả có phân tích được thực hiện trên 4.000 trẻ từ 6 tháng đến 11,9 tuổi tại thành thị và nông thôn. Các chỉ số suy dinh dưỡng (thấp còi, gầy còm, nhẹ cân và gầy (trẻ >5 tuổi)), tình trạng ANTP (đảm bảo ANTP, mất ANTP hộ gia đình/cá thể và đói trẻ em) và mối liên quan được báo cáo, sử dụng giá trị p < 0,05 để xác định có ý nghĩa thống kê. Kết quả: Trẻ em nông thôn có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi, thiếu cân và gầy cao hơn đáng kể so với trẻ em thành thị (p<0,05). Tỷ lệ đảm bảo ANTP ở nông thôn (74,3%) thấp hơn đáng kể so với thành thị (85,9%), bên cạnh đó, tỷ lệ trẻ em bị đói ở nông thôn (12,3%) cao hơn gần gấp ba lần so với thành thị (4,7%, p < 0,001). Ở khu vực nông thôn, tình trạng ANTP có liên quan tới suy dinh dưỡng ở tất cả các thể (p<0,05), trong khi đó, ở khu vực thành thị, tình trạng mất ANTP hộ gia đình cho thấy mối liên quan có ý nghĩa thống kê với tình trạng thấp còi (p = 0,032). Kết luận: Các phát hiện nhấn mạnh sự phân hóa địa lý nghiêm trọng, trong đó tình trạng mất ANTP ở nông thôn cho thấy có mối liên quan có ý nghĩa thống kê đến tình trạng suy dinh dưỡng cấp tính và mãn tính ở trẻ từ 6 tháng đến 11,9 tuổi.Trần Thúy NgaNguyễn Thế AnhLê Văn Thanh Tùng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-06-122026-06-12223687510.56283/1859-0381/1042THỰC HÀNH DINH DƯỠNG Ở BỆNH NHÂN ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN NĂM 2025
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1030
Mục tiêu: Mô tả thực hành về dinh dưỡng và tìm hiểu một số yếu tố liên quan của người bệnh đái tháo đường típ 2. Phương pháp: Nghiên cứu được tiến hành tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương cơ sở Thái Thịnh. Thời gian tiến hành thu thập số liệu từ 15/9/2025 đến 15/10/2025. Phương pháp nghiên cứu cắt ngang. Nghiên cứu viên phỏng vấn trực tiếp 215 người bệnh đái tháo đường típ 2 điều trị ngoại trú. Phương pháp chọn mẫu thuận tiện được lựa chọn và số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi phỏng vấn sẵn. Số liệu sau đó được nhập liệu và phântích bằng phần mềm Excel và SPSS 20. Kết quả: Tỷ lệ thực hành tốt về dinh dưỡng là 56,7%. Các yếu tố liên quan đến thực hành dinh dưỡng tốt bao gồm tuổi nhóm ≥60 tuổi so với nhóm < 60 (OR = 2,15; 95%CI: 1,08–4,29), học vấn cao hơn trung học phổ thông so với nhóm học vấn thấp hơn (OR = 1,81; 95%CI: 1,04–3,12), và ăn uống cùng gia đình so với ăn uống một mình (OR = 4,25; 95%CI: 1,12–16,17). Kết luận: Thực hành dinh dưỡng của đối tượng nghiên cứu còn hạn chế, có mối liên quan giữa thực hành dinh dưỡng với tuổi, độ học vấn và ăn uống cùng gia đình.Khuất Thị ThuỳTrương Hồng SơnHoàng Khắc Tuấn Anh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-04-012026-04-01223768510.56283/1859-0381/1030THỰC TRẠNG BỎ BỮA SÁNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA HỌC SINH TRƯỜNG TRUNG HỌC CƠ SỞ BẮC BÌNH, HUYỆN LẬP THẠCH, TỈNH VĨNH PHÚC
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1006
Mục tiêu: Đánh giá thực trạng bỏ bữa sáng và xác định một số yếu tố liên quan đến bỏ bữa sáng của học sinh trường trung học cơ sở Bắc Bình, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 337 học sinh Trường trung học cơ sở Bắc Bình, huyện Lập Thạch, tỉnh Vĩnh Phúc. Số liệu được thu thập bằng bộ câu hỏi đã được thiết kế sẵn để thu thập các thông tin khác nhau về thông tin chung, thực trạng bỏ bữa sáng và một số yếu tố liên quan ở học sinh. Kết quả: Tỷ lệ học sinh bỏ bữa sáng là 89,9%. Lý do bỏ bữa sáng phổ biến nhất là không có thói quen ăn sáng, không có cảm thấy đói và muốn giảm cân. Có mối liên quan chặt chẽ có ý nghĩa thống kê giữa khoảng cách từ nhà đến trường với thực trạng bỏ bữa sáng của học sinh (p = 0,001), và giữa thời gian ngủ với thực trạng bỏ bữa sáng của học sinh (p = 0,01). Kết luận: Tỷ lệ bỏ bữa sáng rất cao ở học sinh trường trung học cơ sở Bắc Bình và yếu tố liên quan là khoảng cách đến trường và thời gian ngủ tối. Cần tăng cường truyền thông giáo dục dinh dưỡng, phối hợp nhà trường và gia đình để điều chỉnh sinh hoạt ngủ đủ giấc và hỗ trợ bữa sáng cho học sinh.Tiến sĩ Trương Thị Thùy DươngDiệp Hải YếnHoà Thị Hồng Hạnh
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-03-202026-03-20223869310.56283/1859-0381/1006TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN CỦA TRẺ TỪ 6 - 35 THÁNG TUỔI ĐƯỢC CHẨN ĐOÁN VIÊM PHỔI VÀ ĐIỀU TRỊ NỘI TRÚ TẠI KHOA NHI HÔ HẤP BỆNH VIỆN ĐA KHOA XANH PÔN NĂM 2023 – 2024
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/831
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ từ 6 - 35 tháng tuổi được chẩn đoán viêm phổi điều trị nội trú tại khoa Nhi Hô hấp Bệnh viện Đa khoa Xanh Pôn, năm 2023 - 2024. Phương pháp nghiên cứu: Nghiên cứu mô tả cắt ngang. Trẻ được cân đo nhân trắc và bà mẹ được phỏng vấn bằng bộ câu hỏi. Kết quả: Tỷ lệ trẻ có tình trạng dinh dưỡng bình thường là 73,3%, suy dinh dưỡng thể nhẹ cân là 7,6%, thể thấp còi là 17,1%, thể gầy còm là 5,7%, thừa cân – béo phì là 3,8%. Tỷ lệ mắc suy dinh dưỡng thể nhẹ cân cao nhất ở nhóm 24 - 35 tháng tuổi với 24% (p<0,05). Trẻ thuộc nhóm sinh non có tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao hơn trẻ thuộc nhóm sinh đủ tháng (p<0,05). Trẻ thuộc nhóm cân nặng sơ sinh thấp có tỷ lệ suy dinh dưỡng nhẹ cân và tỷ lệ suy dinh dưỡng thấp còi cao hơn trẻ thuộc nhóm cân nặng sơ sinh bình thường (p<0,05). Một số yếu tố liên quan đến tình trạng dinh dưỡng của trẻ: Trẻ ở nhóm 24 – 35 tháng tuổi (so với nhóm 6 – 11 tháng tuổi: OR = 4,7; 95%CI: 1,3 – 16,2); trẻ sinh thiếu tháng (OR = 3,1; 95%CI: 1 – 9,4); trẻ trong gia đình có từ 3 con trở lên (so với nhóm gia đình có 2 con: OR = 4,8; 95%CI: 1,4 – 16,7); trẻ có tình trạng tăng cân chậm (OR = 3,8; 95%CI: 1,3 – 11,1); trẻ có mẹ cho rằng nên ăn/bú ít hơn bình thường khi trẻ viêm phổi (OR = 4,3; 95%CI: 1,1 – 17,4). Kết luận: Tỷ lệ suy dinh dưỡng của trẻ tham gia nghiên cứu cao nhất ở thể thấp còi, tuy nhiên tỷ lệ suy dinh dưỡng ở các thể đều thấp hơn so với số liệu thống kê toàn quốc của Viện Dinh dưỡng Quốc gia (2020). Yếu tố liên quan đến tình trạng suy dinh dưỡng của trẻ là tuổi của trẻ, tuổi thai khi sinh, số con trong gia đình, tình trạng tăng cân chậm và kiến thức của bà mẹ trong việc điều chỉnh lượng ăn/ bú vào của trẻ khi viêm phổi.Nguyễn Hoàng Huyền MyTS Nguyễn Thị Hương LanLê Mỹ PhươngNguyễn Thị Thanh HuyềnNguyễn Vân Nhi
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-03-082026-03-082239410410.56283/1859-0381/831TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG VÀ HỘI CHỨNG CHUYỂN HOÁ Ở NGƯỜI BỆNH ĐÁI THÁO ĐƯỜNG TÝP 2 ĐIỀU TRỊ NGOẠI TRÚ TẠI TRUNG TÂM Y TẾ NAM ĐỊNH NĂM 2025
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1026
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và mô tả hội chứng chuyển hoá (HCCH) ở người bệnh đái tháo đường týp 2 tại Trung tâm Y tế Nam Định năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang được thực hiện trên 205 bệnh nhân đái tháo đường týp 2. Phỏng vấn trực tiếp đối tượng bằng bộ câu hỏi thiết kế sẵn để thu thập thông tin về đặc điểm chung, chỉ số nhân trắc, chỉ số huyết áp. Chỉ số sinh hóa được thu thập từ kết quả xét nghiệm máu của đối tượng từ trung tâm Y tế Nam Định. Phân loại tình trạng dinh dưỡng theo chỉ số khối cơ thể. Các yếu tố liên quan đến HCCH được xác định bằng phân tích hồi qui đa biến logistic. Kết quả: Ở 205 người bệnh đái tháo đường týp 2: 37,1% thừa cần, 8,8% thiếu năng lượng trường diễn, 65,4% có HCCH. Trong phân tích đa biến, chỉ có thừa cân-béo phì là yếu tố liên quan độc lập với HCCH (OR = 2,85; 95%CI: 1,50–5,40; p = 0,001). Kết luận: Tỷ lệ thừa cân chiếm tỷ lệ cao ở người bệnh đái tháo đường týp 2. HCCH phổ biến ở bệnh nhân đái tháo đường và có liên quan chặt chẽ với thừa cân - béo phì. Cần tăng cường sàng lọc và kiểm soát các yếu tố nguy cơ chuyển hóa nhằm giảm nguy cơ biến chứng tim mạch.Vũ Thị Nhung
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2025-04-112025-04-1122310511210.56283/1859-0381/1026TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH BASEDOW ĐẾN TÁI KHÁM TẠI BỆNH VIỆN NỘI TIẾT TRUNG ƯƠNG NĂM 2023
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1028
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng của người bệnh Basedow đến tái khám tại Bệnh viện Nội tiết Trung ương năm 2023. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang từ tháng 12/2022 đến tháng 8/2023 trên 98 người bệnh Basedow. Tình trạng dinh dưỡng được đánh giá cân nặng và theo chỉ số khối cơ thể ở thời điểm trước và sau khi mắc bệnh Basedow. Kết quả: Trong tổng số 98 người bệnh chiếm chủ yếu là nữ giới. Có 16,3% người bệnh Basedow có các bệnh lý khác đi kèm còn lại 83,7% là Basedow đơn thuần. Có sự thay đổi cân nặng ở hai thời điểm trước và sau khi mắc bệnh và ở cả hai giới, sụt cân là dấu hiệu điển hình phổ biến, số cân nặng thay đổi trung bình ở cả 2 nhóm là 2,9 ± 5,3 kg. Tỉ lệ thiếu năng lượng trường diễn tăng lên từ 12,1% lên 22,2 % và tăng lên ở cả 2 giới sau khi mắc bệnh. Tỉ lệ thừa cân - béo phì giảm ở 2 giới từ 34,3% xuống 25,3%. Kết luận: Có sự thay đổi về cân nặng và tình trạng dinh dưỡng cả 2 giới ở các thời điểm trước và sau khi mắc bệnh. Cần quan tâm chăm sóc và cải thiện tình trạng dinh dưỡng cho người bệnh Basedow là điều cần thiết hỗ trợ hữu ích giảm những gánh nặng bệnh lý trong thời gian điều trị.ThS Đinh Thị Kim AnhThS Hoàng Khắc Tuấn AnhThS Phạm Thị Minh PhươngThS Nguyễn Thị Thanh MaiThS Nguyễn Quỳnh AnhThS Đinh Thị Huyền TrangPGS. TS Nguyễn Trọng Hưng
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-04-162026-04-1622311312010.56283/1859-0381/1028TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA NGƯỜI BỆNH UNG THƯ BIỂU MÔ TẾ BÀO GAN TRƯỚC PHẪU THUẬT TẠI BỆNH VIỆN K NĂM 2025-2026
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1046
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng ở người bệnh ung thư biểu mô tế bào gan trước phẫu thuật tại bệnh viện K năm 2025-2026. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 120 người bệnh HCC có chỉ định phẫu thuật cắt gan. Tình trạng dinh dưỡng đánh giá qua phân loại PG-SGA, chỉ số nhân trắc (BMI, chu vi vòng eo, tỷ số eo/hông, chu vi vòng bắp chân, chu vi vòng cánh tay, khối lượng cơ, phần trăm mỡ cơ thể, chỉ số mỡ nội tạng, cơ lực) và xét nghiệm sinh hóa (albumin, hemoglobin). Kết quả: Tỷ lệ phân bố mỡ vùng trung tâm mức vừa và cao lần lượt là 36,7% và 23,3%; chỉ số eo/hông > 0,85 chiếm 81,7%. Có 53,3% đối tượng có nguy cơ thiểu cơ, 35% có lực cơ yếu. Theo BMI có 13,3% thiếu năng lượng trường diễn. Đánh giá theo PG-SGA cho thấy 31,7% có nguy cơ suy dinh dưỡng PG-SGA B, 5,0% suy dinh dưỡng nặng PG-SGA C. Kết luận: Tỷ lệ có nguy cơ suy dinh dưỡng ở bệnh nhân HCC theo PG-SGA (36,7%) và các nguy cơ thiểu cơ, lực cơ yếu còn cao. Cần đánh giá tình trạng dinh dưỡng toàn diện cho người bệnh HCC trong giai đoạn trước phẫu thuật để can thiệp kịp thời nhằm đảm bảo thể trạng trước phẫu thuật gan và hạn chế biến chứng sau phẫu thuật.Tống Thu HàLê Thị HươngNguyễn Hà ThuVũ Thị QuýNguyễn Thị Thu LiễuNguyễn Minh NgọcDương Thị Thu HiềnHoàng Việt Bách
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-06-022026-06-0222312112910.56283/1859-0381/1046TÌNH TRẠNG DINH DƯỠNG Ở TRẺ 6–60 THÁNG KHÁM DINH DƯỠNG NGOẠI TRÚ TẠI BỆNH VIỆN E
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1053
Mục tiêu: Mô tả tình trạng dinh dưỡng ở trẻ 6–60 tháng tuổi khám dinh dưỡng ngoại trú tại Bệnh viện E và một số yếu tố liên quan đến suy dinh dưỡng (SDD). Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 152 trẻ 6–60 tháng tuổi mắc bệnh cấp tính, khám ngoại trú và có nhu cầu tư vấn dinh dưỡng tại Bệnh viện E từ 8/2025 đến 4/2026. Tình trạng dinh dưỡng được phân loại theo chuẩn WHO 2006 bằng phần mềm WHO Anthro. Kết quả: Tỷ lệ SDD thấp còi ở nhóm 24–60 tháng là 34,3% và nhóm 6–23 tháng là 24,4%. SDD gầy còm chủ yếu gặp ở trẻ dưới 24 tháng. Tỷ lệ thiếu vi chất chung là 81,6%, thiếu sắt 67,1% và thiếu kẽm 42,1%. Thiếu máu ở nhóm 6–23 tháng (31,7%) cao hơn nhóm 24–60 tháng (10,0%), p < 0,001. Mẹ tăng cân thai kỳ không đủ, trẻ không bú sớm trong giờ đầu sau sinh và khẩu phần ăn bổ sung chưa đa dạng có liên quan đến SDD, p < 0,05. Kết luận: SDD và thiếu vi chất còn phổ biến ở trẻ 6–60 tháng khám dinh dưỡng ngoại trú. Cần tăng cường chăm sóc dinh dưỡng từ thai kỳ, khuyến khích bú sớm sau sinh và đa dạng khẩu phần ăn nhằm cải thiện tình trạng dinh dưỡng của trẻ.Bác sĩ Nguyễn Thị HườngTS.BS. Lưu Thị Mỹ Thục Lưu Thị Mỹ ThụcThs.BS. Trương Văn Quý Trương Văn QuýĐiều dưỡng Nguyễn Thị Thu UyênĐD Bùi Thị Dung Bùi Thị DungThs. Bs. Chu Thị Thanh Hoa Chu Thị Thanh HoaBùi Thị Thu Thuỷ
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-06-262026-06-2622313213910.56283/1859-0381/1053THỰC TRẠNG DINH DƯỠNG CỦA NHÂN VIÊN VĂN PHÒNG TẠI MỘT SỐ PHƯỜNG THUỘC THÀNH PHỐ HÀ NỘI NĂM 2025 VÀ MỘT SỐ YẾU TỐ LIÊN QUAN
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1062
Mục tiêu: Đánh giá tình trạng dinh dưỡng và xác định một số yếu tố liên quan ở nhân viên văn phòng tại một số phường thuộc thành phố Hà Nội năm 2025. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang trên 300 nhân viên văn phòng tại các cơ quan hành chính. Số liệu được thu thập qua phỏng vấn bằng bộ câu hỏi và đo lường nhân trắc. Tình trạng dinh dưỡng được phân loại theo BMI và vòng eo. Phân tích thống kê bằng phần mềm Stata 15.0, sử dụng mô hình hồi quy logistic để xác định các yếu tố liên quan. Kết quả: Đánh giá BMI theo chuẩn WHO, tỷ lệ thừa cân và béo phì lần lượt là 20,3% và 5,0% (với 2,7% thiếu năng lượng trường diễn); trong khi theo chuẩn Châu Á, tỷ lệ này là 23,0% và 25,3%. Các yếu tố làm tăng khả năng mắc thừa cân, béo phì có ý nghĩa thống kê gồm: giới tính nam (aOR = 5,5; 95% CI: 3,10–10,01) và thường xuyên sử dụng thực phẩm xào rán (aOR=2,0; KTC95%: 1,09–3,62). Kết luận: Tỷ lệ thừa cân, béo phì ở nhân viên văn phòng khá cao. Cần sớm triển khai can thiệp khuyến khích ăn sáng tại nhà, kiểm soát vòng eo và tăng cường hoạt động thể chất.BS Nguyễn Ngọc Quang LâmTS Tuấn Thị Mai PhươngPGS.TS Nguyễn Ngọc AnhDương Thị Thu TràPGS.TS Nguyễn Thị LâmBS Đinh Thị Thanh PhượngThạc sỹ Hà Huy Tuệ
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-06-192026-06-1922313814710.56283/1859-0381/1062THỰC TRẠNG THIẾU VI CHẤT DINH DƯỠNG Ở TRẺ DƯỚI 10 TUỔI TẠI PHÒNG KHÁM DINH DƯỠNG BỆNH VIỆN ĐA KHOA QUỐC TẾ VINMEC TIMES CITY HÀ NỘI NĂM 2025
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1072
Mục tiêu: Xác định tình trạng vi chất dinh dưỡng của trẻ em từ 3 tháng đến dưới 10 tuổi đến khám tư vấn dinh dưỡng tại Bệnh viện Đa khoa quốc tế Vinmec Times City. Phương pháp: Nghiên cứu cắt ngang từ tháng 3 đến tháng 10 năm 2025 với cỡ mẫu 157 trẻ dưới 10 tuổi, các đối tượng được xét nghiệm kẽm, vitamin D, vitamin A, vitamin B12, phospho để đánh giá tình trạng thiếu vi chất dinh dưỡng ở trẻ em, so sánh sự khác biệt về tình trạng thiếu vitamin A, D, B12 và phospho giữa trẻ em ở Hà Nội và một số tỉnh và thành phố khác. Kết quả: Trẻ có kẽm huyết thanh thấp chiếm tỉ lệ cao nhất (60,5%), tiếp theo là thiếu vitamin D (24,2%), thiếu vitamin A tiền lâm sàng (11,5%), thiếu phospho (2,5%), và thiếu vitamin B12 (35,6%). Tỉ lệ thiếu kẽm, vitamin D, vitamin A, phospho và vitamin B12 ở trẻ tại Hà Nội tương đương với các tỉnh (p>0,05). Kết luận: Tình trạng thiếu vitamin và chất khoáng ở trẻ từ 3 tháng đến dưới 10 tuổi còn cao, trong đó thiếu kẽm chiếm cao nhất, tiếp theo thiếu vitamin D, A, phospho, vitamin B12.Ts.Bs Vũ Thị ThanhPhan Thanh Nguyên
Copyright (c) 1970 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-06-282026-06-2822314815810.56283/1859-0381/1072TỐI ƯU QUY TRÌNH PHÂN TÍCH ĐA HÌNH ĐƠN NUCLEOTIDE LPL RS320 LIÊN QUAN VỚI RỐI LOẠN LIPID MÁU SỬ DỤNG PHƯƠNG PHÁP MỒI ĐẶC HIỆU ALEN
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1057
Mục tiêu: Xây dựng quy trình phân tích kiểu gen của đa hình đơn nucleotide LPL rs320 (SNP LPL rs320) bằng phương pháp mồi đặc hiệu alen (AS-PCR) trên các mẫu ADN được tách từ máu toàn phần ở người trưởng thành từ 40-64 tuổi. Đối tượng và phương pháp: Phân tích kiểu gen của SNP LPL rs320 trên 80 mẫu ADN của người Việt Nam bằng phương pháp AS-PCR, trong đó có sử dụng phần mềm để thiết kế mồi đặc hiệu alen và thực hiện các kĩ thuật sinh học phân tử để tối ưu hoá các cặp mồi, chu trình nhiệt của các phản ứng. Phương pháp giải trình tự Sanger được lựa chọn để xác định kiểu gen chuẩn của đa hình đơn nucleotide này. Kết quả: Quy trình phân tích kiểu gen gồm các cặp mồi, thành phần phản ứng và chu trình nhiệt cho phản ứng nhân gen của SNP LPL rs320 bằng phương pháp AS-PCR được xây dựng và tối ưu trên các mẫu ADN người trưởng thành. Kết luận: Quy trình AS-PCR để phân tích SNP LPL rs320 có độ chính xác cao, cho kết quả nhanh và có thể lặp lại trên quần thể mẫu lớn cũng như ở các quần thể khác nhau nhằm tiến tới thực hiện nghiên cứu mối liên quan của đa hình này với bệnh rối loạn lipid máu và một số bệnh khác ở người Việt Nam.Bùi Thị Khánh ThuậnPGS Trần Quang Bình
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-06-082026-06-0822315916610.56283/1859-0381/1057CƠ CHẾ VÀ HIỆU QUẢ LÂM SÀNG CỦA CHẤT XƠ HÒA TAN TRONG KIỂM SOÁT ĐƯỜNG HUYẾT
https://tapchidinhduongthucpham.org.vn/index.php/jfns/article/view/1011
Mục tiêu: Bài tổng quan này nhằm tổng hợp các cơ chế sinh lý học và đánh giá hiệu quả lâm sàng của chất xơ hòa tan (SDF) đối với việc kiểm soát đường huyết ở người bệnh tiền đái tháo đường và đái tháo đường type 2. Qua đó, bài viết định hướng ứng dụng lâm sàng dựa trên đặc tính sinh lý học của từng nhóm chất xơ. Phương pháp: Sử dụng phương pháp tổng quan tường thuật để tổng hợp và phân tích dữ liệu từ các cơ sở dữ liệu y khoa (PubMed, Cochrane Library, ScienceDirect). Nội dung tập trung vào các phân tích gộp và thử nghiệm lâm sàng ngẫu nhiên có đối chứng (RCT) được cập nhật trong giai đoạn 2023–2025. Kết quả: Hiệu quả của SDF không đồng nhất, phụ thuộc chặt chẽ vào đặc tính lý hóa. Các loại chất xơ có độ nhớt cao (như β-glucan, Psyllium) tác động chủ yếu qua cơ chế vật lý, hình thành ma trận gel làm chậm quá trình làm rỗng dạ dày và cản trở enzyme tiêu hóa, giúp giảm đáng kể đường huyết sau ăn và chỉ số HbA1c. Ngược lại, nhóm chất xơ lên men (như Inulin, FOS) hoạt động qua cơ chế nội tiết, sinh ra các axit béo chuỗi ngắn (SCFAs) kích thích hormone incretin (GLP-1), giúp cải thiện độ nhạy insulin dài hạn. Hiệu quả này còn chịu sự chi phối của tính cá thể hóa và cấu trúc hệ vi sinh vật đường ruột. Kết luận: Chất xơ hòa tan là một liệu pháp dinh dưỡng hỗ trợ an toàn. Tuy nhiên, để tối ưu hóa, có thể cân nhắc chuyển dịch sang cá thể hóa điều trị, gợi ý ưu tiên nhóm chất xơ độ nhớt cao và áp dụng chiến lược trình tự ăn uống (ăn chất xơ trước tinh bột) tùy theo mức độ dung nạp của người bệnh.Tiến sĩ Lâm Khắc KỷHuỳnh Hữu ĐứcTrần Ngọc Bửu
Copyright (c) 2026 Tạp chí Dinh dưỡng và Thực phẩm
2026-04-022026-04-022231910.56283/1859-0381/1011